• Email address:

Lý giải các nguồn gốc của sự bất bình đẳng giới: những vấn đề lịch sử và quan niệm

By admin
In Giới và Phát triển
Sep 28th, 2010
2 Comments
3220 Views

Tôi đã nhiều lần cho rằng phân tích tình trạng áp bức nữ giới và nguồn gốc của tình trạng ấy cần tách thành hai khía cạnh vấn đề: lịch sử và quan niệm. Khía cạnh lịch sử đòi hỏi huyền thoại về “thời hiện tại của mô tả tộc người” (“ethnorgaphic present”) phải hoàn toàn bị xóa bỏ và các nhà nhân loại học phải giải quyết trọn vẹn cấu trúc các quan hệ giới ở những dân tộc mà họ nghiên cứu không xuất phát từ các quan hệ sản xuất tiền tư bản chẳng hạn, mà từ những phương thức mà các quan hệ ấy chịu sự tác động của các lịch sử đặc thù trong quá trình thực dân hóa. Khía cạnh quan niệm đòi hỏi sự đoạn tuyệt dứt khoát với khuynh hướng giải thích mọi nền văn hóa bằng các phạm trù của xã hội tư bản. Các phạm trù ấy xuyên tạc cấu trúc của những quan hệ cộng sản nguyên thủy, và do đó, che lấp các nguồn gốc của hệ thống cấp bậc. Hơn nữa, phê phán, như các nhà nghiên cứu nữ quyền đã vạch ra một cách dứt khoát, là điều cần thiết cho việc chấm dứt các giả định tràn lan rằng phụ nữ không phải là các diễn viên trên sân khấu lịch sử của con người có cùng trình độ với nam giới. Hầu như chúng ta không thấy rằng sự xuyên tạc của nhân loại học về vai trò của phụ nữ trong xã hội có những ngụ ý sâu sắc đối với việc giải thích cấu trúc xã hội nói chung. Đặc biệt là các nhà Mác xít Pháp đã không tiến hành phê phán triệt để quan điểm của Lévi-Strauss, quan điểm rằng sự trao đổi phụ nữ giữa những người đàn ông với nhau là bước khởi đầu cho xã hội con người, chính vì thế mà phân tích của họ về các phương thức sản xuất tiền tư bản chủ nghĩa chưa có tính thuyết phục cao.[1]

NHÂN LOẠI HỌC VÀ LỊCH SỬ

Tầm quan trọng của sự chú ý thường xuyên đến lịch sử có ấn tượng với tôi, với tính cách là nghiên cứu sinh trường Đại học Colombia, khi tôi may mắn được tham dự buổi seminar về “Quan niệm thời gian và người da đỏ” của Wm. Duncan Strong. Strong viện đến khoa khảo cổ và lịch sử tộc người để chứng minh rằng nền văn hóa Indian ‘điển hình’, như được nhìn nhận lúc ấy, không phải thuộc về người bản xứ mà là được phát triển từ thế kỷ 18 khi nhiều bộ tộc trước đó, số thì nông nghiệp, số thì săn bắt-hái lượm, đã lợi dụng ngựa để di chuyển đến vùng đồng cỏ hay sống lâu dài trên những vùng đồng cỏ. Tôi cũng có thể nói thêm rằng thị trường mở rộng tối đa đối với mặt hàng da trâu và áp lực đất đai do quá trình xâm nhập của người châu Âu vào miền Tây và miền Nam là những nguyên nhân quan trọng đối với việc di chuyển đến những vùng đồng cỏ. Trong một thời gian khá ngắn, các vết tích xã hội, nghi thức và vật chất được vay mượn, phát triển và/hoặc trau chuốt bởi những người dân thuộc các tộc người khác nhau đang hòa mình vào một nền văn hóa tương đối thuần nhất.[2]

Khuynh hướng tộc người học lịch sử của Strong đã ảnh hưởng đến một số luận án, số thì viết về các dân tộc Plains, số thì viết về các dân tộc ở những vùng khác. “Kết quả là, các nghiên cứu mở rộng về tổ chức kinh tế-xã hội người bản địa châu Mỹ và về sử dụng đất đai nhận trách nhiệm nói về các hoạt động của bộ lạc người da đỏ Claims khởi từ những năm 1950.” Công trình này cho thấy một thực tế có ý nghĩa chủ đạo đối với sự nhận thức các xã hội chưa phân hóa tồn tại ở hầu hết những cái hợp thành nước Mỹ: các băng nhóm, làng mạc, đô thị chỉ được tập hợp một cách lỏng lẻo thành cái gọi là các bộ tộc; tuy nhiên, xét về mặt chính trị, chúng vận hành với tính cách là các đơn vị tự trị. Vấn đề đã được Kroeber làm sáng tỏ, và được Field bàn tỉ mỉ hơn khi phê phán khái niệm “bộ tộc”. Koeber viết: “Chúng ta càng xét lại vấn đề châu Mỹ bản địa, các hiện tượng thường xuyên tái diễn, phù hợp với khái niệm thông thường của chúng ta về bộ tộc, càng trở nên ít chắc chắn hơn và khái niệm này có vẻ là sự sáng tạo của người da trắng để thuận lợi cho việc nói về người Indian, thỏa thuận với họ và quản lý họ tỏ ra càng lớn . . . đối với chúng ta, nó vô cùng thuận tiện và có tính khả thi để chúng ta có thể quan hệ với đại diện của các nhóm lớn hơn là quan hệ với đại diện của các nhóm nhỏ chỉ vài ba chục người, hay thay đổi, mà ngay cả cái tên và môi trường sống cụ thể của chúng thường không được biết tới. Tương tự như vậy, liệu những thỏa thuận được thương lượng cho buôn bán, đi lại, định cư hay tái định cư, chuyển nhượng đất đai, an ninh, trợ cấp, phân phối, quản lý khu vực, hay xóa bỏ và lập ra khu vực mới. Nhìn chung, chúng ta coi “các bộ tộc”-bộ lạc như thể chúng là các bộ tộc-nhà nước có chủ quyền, và chỉ đơn thuần nhờ áp lực của kẻ mạnh, chúng ta buộc người Indian tuân theo sự sắp đặt của chúng ta.”

Kroeber cho rằng các bộ tộc, như được định nghĩa một cách chung chung, là sản phẩm của quá trình thực dân hóa. Quan điểm này đòi hỏi điều kiện là tổ chức và lãnh đạo bộ tộc không phải chỉ được đặt ra từ chỗ không có gì. Ở người bản địa châu Mỹ, chúng hình thành từ nhu cầu chống lại sự xâm lược của người da trắng. Cuộc chiến tranh đó, từng xảy ra trong thời kỳ tiền thực dân, thường dùng hình thức đánh du kích của các nam chiến binh (và phụ nữ trẻ tuổi cũng có cơ hội tham gia), là những người thể nghiệm tinh thần dũng cảm của mình trong một trận đột kích nào đó mà họ cho rằng nó sẽ đem lại thanh thế khi chạm mặt với kẻ thù hơn là giết hại chúng. Khi cuộc chiến tranh sống còn trở nên bức thiết thì các thủ lĩnh hùng mạnh xuất hiện để hợp nhất một hay nhiều bộ tộc và đáp ứng yêu cầu. Theo Kroeber, dù sao đi nữa “các dân tộc lớn hơn”, tức là các nhóm thân cận nhau về văn hóa được biết đến như là các bộ tộc, là các dân tộc “đạo đức” , nếu không nói là “phi chính trị” theo nghĩa họ không có một quyền lực nào để đặt mình lên trên các thành viên bộ tộc. “Các đơn vị nhỏ hơn”, cho dù chúng được gọi là làng mạc, băng nhóm, đô thị, các tiểu bộ tộc, các dòng họ, hay là cái gì khác đi nữa thì chúng đều là những đơn vị độc lập, có chủ quyền, là những đơn vị có quyền sở hữu và sử dụng đất đai của mình.” Tuy nhiên, những đơn vị nhỏ hơn này không được coi là các bộ tộc thu nhỏ theo nghĩa là các nhóm có mối liên hệ mật thiết và ổn định chống lại quyền lực của vị thủ lĩnh và/hoặc quyền lực của hội đồng. Một cách trình bày như thế làm méo mó hiện thực của các xã hội được tổ chức theo chế độ công xã, trong đó, sự vận động giữa các nhóm diễn ra dễ dàng và thường xuyên; quyền đất đai không được coi là độc quyền; quy định về các hoạt động cá nhân do những người thực hiện chúng đề ra; và quy định về các hoạt động của nhóm, đạt được thông qua sự nhất trí, không tạo áp lực đối với những người không tán thành. Một cách trình bày như thế cũng phản ánh không đúng cơ cấu hoạt động của các quan hệ trong nhóm, trong làng, cơ cấu hoạt động của các hình thức nghi lễ và các hình thái xã hội phức tạp. Tóm lại, cách trình bày như thế không phản ánh đúng tất cả những gì đã xác lập quan hệ hợp tác, tình cảm cũng như đã thành nghi thức, kìm tỏa sự thù ghét tiềm tàng. Các thảo luận của Kroeber và Frield về sự thay đổi của các hình thái chính trị chứng minh nó vô lý như thế nào khi coi các nền văn hóa được xây dựng lại từ ký ức của những người già ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là “truyền thống” theo nghĩa tiền-Columbia. Để làm như thế thì phải che đậy sự tham gia tích cực của người bản địa Mỹ suốt 500 năm lịch sử hậu-thực dân. Cần phải thể hiện họ như là những gương mặt giấy bồi, sống theo một mớ “các nét văn hóa” trong “các vùng văn hóa”, các nét không những thay đổi mà còn bị “đánh mất” qua “tiếp biến văn hóa”.[3]

VẤN ĐỀ GIỚI Ở THỔ DÂN BẮC MỸ

Về vấn đề vị trí của phụ nữ, việc khái quát hóa nền văn hóa nào đó của người da đỏ mà không xét tới chiều lịch sử thì cũng sẽ chẳng làm sáng tỏ thêm được điều gì. Trong thời kỳ thuộc địa, do tác động của người Âu-Mỹ trong các giải pháp quân sự và chính trị đối với người bản địa, đồng thời vì trong gia đình phụ nữ da đỏ dần dần lệ thuộc vào các ông chồng ăn nên làm ra của mình mà uy thế của nam giới được mở rộng. Chẳng hạn, sau khi tổng hợp tư liệu về sự bình đẳng toàn xã hội của những người phụ nữ Cherokee qua các bản báo cáo thuộc địa, nhà nghiên cứu lịch sử pháp quyền Reid viết: “Sự suy giảm hoạt động săn bắt và thừa nhận lối sống Mỹ trong thế kỷ 19, cùng với sự thay thế các hàng hóa sản xuất tại nhà máy bằng các hàng hóa sản xuất tại nhà . . . đã giải phóng phụ nữ Cherokee khỏi lao động ngoài trời, họ đảm đương công việc trong nhà còn các ông chồng thì làm việc ngoài trời, nhưng nó cũng tước mất ở họ sự độc lập về kinh tế của họ, khiến họ ngày càng giống với những người chị em da trắng của mình hơn.”

Một ví dụ tiếp theo về những thay đổi của vị trí của người phụ nữ đi cùng với quá trình thực dân hóa của người bản địa Bắc Mỹ do mâu thuẫn giữa Lafitau và Morgan khi nghiên cứu về thị tộc Iroquois tạo ra.[4]Trong một công trình của mình (thế kỷ 18), Lafitau nói rằng người Iroquois và/hoặc những người phụ nữ Huron là “những linh hồn của Hội đồng, là những người nắm toàn quyền về vấn đề hòa bình và chiến tranh”, trong đó “mọi uy thế thực tế bị đảo lộn”. Trong bản trình bày của mình (thế kỷ 19), mặc dù có xét đến các quyền ra quyết định của phụ nữ trong gia đình người Iroquois, nhưng Morgan nói rằng những người đàn ông Iroquois coi phụ nữ là những người “thấp kém, phụ thuộc và tôi tớ của đàn ông”, và phụ nữ “từ việc nuôi nấng và thói quen, . . . thực sự phải xem mình là như thế.” Mặc dù tính chất dứt khoát của luận điểm sau có thể cần phải tranh luận nhưng nó lại được viết vào lúc người phụ nữ Iroquois đã mất vai trò là người sản xuất chính và đã mất quyền kiểm soát các sản phẩm lao động của họ, các sản phẩm ấy đảm bảo cho họ quyền tự trị bản thân và uy thế nơi công cộng. Hoàn cảnh của họ không còn như thời kỳ 1791, khi các bà lão người Seneca nói với Colonel Proctor, đặc phái viên của George Washingto: “Ông hãy nghe và lắng nghe những gì phụ nữ chúng tôi nói, cũng như những gì ông lắng nghe các vị tù trưởng; vì chúng tôi là người sở hữu mảnh đất này – và nó là của chúng tôi. Chính chúng tôi là người sinh sống trên mảnh đất ấy. Do đó, ông hãy nghe chúng tôi, vì chúng tôi nói về những gì liên quan đến chúng tôi trong khi những người đàn ông của chúng tôi sẽ nói cho ông nhiều hơn; vì chúng tôi đã nói cho họ.”

Một công trình còn ít được mọi người biết đến của Powell khảo về tộc người Wyandot sẽ bàn một cách cụ thể hơn sự thay đổi trong quan hệ giữa vai trò kinh tế và các quyền ra quyết định của những người phụ nữ ở thị tộc Iroquois và thị tộc Huron. Powell viết: “Canh tác là công việc chung, tức là, toàn bộ những người phụ nữ khỏe mạnh trong thị tộc tham gia việc canh tác trên từng vùng đất của gia đình theo phương thức như sau: Người chủ gia đình sai anh em và con trai của bà ta vào rừng hay suối tìm thịt rừng hay cá để sửa soạn cho một bữa tiệc; rồi sau đó người ta mời những người đàn bà khỏe mạnh trong thị tộc đến tham dự vào việc canh tác đất đai, và khi công việc này được tiến hành thì bữa tiệc được dọn ra.”

Powell nói rằng phụ nữ là những người chủ gia đình ở người Wyandot, bốn người chủ gia đình cùng với một người đàn ông mà họ chọn để sống chung lập thành một hội đồng thị tộc. Các hội đồng thị tộc cùng nhau lập ra một hội đồng bộ tộc có trách nhiệm phân chia đất đai cho các thị tộc. Các thành viên nữ trong hội đồng mỗi thị tộc lần lượt đảm nhiệm công việc phân chia đất đai cho từng hộ gia đình thị tộc cũng như các công việc khác, như đặt tên riêng, bàn bạc và thỏa thuận hôn nhân. Hiển nhiên là toàn thể hội đồng, tức là gồm các nam thành viên, giải quyết trước hội đồng bộ lạc những vụ vi phạm nào đó do những người ngoại tộc gây ra. Chiến tranh là trách nhiệm của đàn ông; tất cả “những người đàn ông khỏe mạnh” lập ra cái mà Powell gọi là “hội đồng quân sự” do một “thủ lĩnh quân sự” lãnh đạo. Sự kiện phụ nữ không tham gia vào các hội đồng này đã đi đến một sự đánh giá quá thấp nghiêm trọng về quyền của họ trong các xã hội được tổ chức theo đường lối đại khái giống với xã hội Wyandot Huron. Trước hết, các điều khoản về đàm phán quân sự giữa những người ngoài và “những người trong hội đồng quân sự” hay “các thủ lĩnh quân sự” không cho thấy cơ cấu hình thức quyền lực của phụ nữ, cái mà do đó có thể được giải thích như là cái gián tiếp, cái “hậu trường”. Thứ hai, hiểm họa xâm lăng làm tăng trách nhiệm và quyền lực của “hội đồng quân sự”. Sự phát triển kinh tế tiếp theo, cùng với các chính sách như chính sách Daws (General Allotment) Act năm 1887 (để phân chia toàn bộ đất đai người da đỏ thành những mảnh đất sở hữu của gia đình) chẳng hạn, cắt vụn các hoạt động kinh tế tập thể truyền thống do phụ nữ kiểm soát. Cũng như ở người Cherokee và người Iroquois, cấu trúc bình đẳng và tương hỗ của việc ra quyết định ở người Huron đã bị phá vỡ.

QUAN NIỆM VỀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN NGUYÊN THỦY VÀ SỰ BIẾN CHUYỂN CỦA NÓ

Như những đề xuất ở trên, các quan hệ bình đẳng được duy trì ở hầu hết các xã hội dựa trên kinh tế chăn nuôi và nhiều xã hội dựa trên kinh tế làm vườn trên thế giới vào lúc sự bành trướng của châu Âu lại phụ thuộc vào những người trưởng thành tham gia trực tiếp vào toàn bộ quá trình sản xuất. Qua “toàn bộ quá trình”, tôi muốn đề cập tới các quan niệm của Marx về sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng như là “các thành phần của một thực thể, các phương diện khác nhau của một chỉnh thể” đối lập với những mệnh đề thu hẹp tầm quan trọng của chúng đối với các quá trình lao động và phân phối sản phẩm. Sự kiểm soát của các cá nhân đối với những điều kiện lao động của họ, những kỹ năng cũng như các nguồn lực cần thiết để thực hiện lao động và kiểm soát sự sắp xếp và sử dụng các sản phẩm lao động phân biệt cơ cấu bình đẳng với các cơ cấu được sắp đặt theo hệ thống cấp bậc.[5]

Một phương hướng cơ bản của quan niệm của Marx đối với sự phân tích xã hội bình đẳng, được giải thích trong các thuật ngữ này, làm rõ thêm sự biến đổi các quan hệ bình đẳng sang các quan hệ có thứ bậc là sự thay đổi về chất chứ không phải là sự thay đổi về lượng. Một quan điểm như thế trái với thực tế lý luận chung về các xã hội bình đẳng từ phương diện các đặc điểm giống nhau xác định xã hội giai cấp. Theo các lý luận này, các quyền sử dụng đất đai và các nguồn lực khác nhau, quyền thừa kế, các hệ thống kinh tế-xã hội được coi là những trạng thái phôi thai (incipient) – vì các khuynh hướng phát triển yếu ớt chỉ cần tồn tại lâu là trở thành khuynh hướng chủ đạo. Dù tiên báo trước là có mâu thuẫn, nhưng từ đó lịch sử được ngầm hiểu là lịch sử đơn tuyến và hướng đích mà xã hội châu Âu chính là mục đích cuối cùng và là thước đo của cái lịch sử ấy. Các lựa chọn cho tương lai trở nên mơ hồ vì người ta nghĩ rằng trong quá khứ đã không hề tồn tại một sự lựa chọn hiện thực nào.[6]

Luận điểm sự lệ thuộc của nữ giới là một hiện thực phổ biến trong xã hội con người xuất phát từ luận điểm rằng xã hội cộng sản nguyên thủy về cơ bản đã được hình thành bởi chính những yếu tố ràng buộc và cưỡng bức, các yếu tố thiết định xã hội có giai cấp, và đến lượt nó, nó bảo vệ cho quan điểm ấy. Ở đâu có sự đố kị được tạo ra giữa nam và nữ thì ở đó, đố kị được giải thích là sự xung đột phổ biến giữa hai giới chứ không phải là bằng chứng cho sự nảy sinh những khác biệt về địa vị giữa đàn ông hay giữa đàn bà với nhau, cũng như giữa đàn ông và đàn bà. Mối quan hệ chủ yếu giữa sự phát triển của giai cấp xã hội và nỗ lực lật đổ cái địa vị tự trị và công khai (như trong các xã hội trọng nam giới ở Melanesie) hiếm khi được biết đến. Tóm lại, thứ bậc giới được chấp nhận một cách không phê phán, cả cơ cấu của chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy lẫn cơ sở chuyển đổi của nó do đó đã bị phủ lên lớp màn thần bí.[7]

Ngày nay, người ta nói nhiều đến các hệ hình (paradigms) và hay nhấn mạnh đến quá trình (process). Tuy nhiên, phân tích đối chiếu văn hóa vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các trạng thái và các bản chất với tính cách là phạm trù chứ không phải là các quá trình hay các quan hệ. Giữa thế kỷ 20, mọi người đều thừa nhận tính tuần tự của tiến hóa xã hội, như Engels và Morgan đã sơ bộ vạch ra tương đối sát với hiện thực lịch sử, đã mở cho nhân loại học con đường phân tích biện chứng về lịch sử con người về phương diện những chuyển đổi cơ bản theo những cách người ta giải thích khi họ tái sản xuất ra chính bản thân họ và các cơ cấu xã hội của họ. Đặc biệt, khi nhấn mạnh các quan hệ giữa cá nhân và xã hội, đặc trưng cho trường phái nhân cách văn hóa và những người kế tục nó trong nhân loại học tâm lý, thì ý nghĩa của luận cương VI của Marx về Feuerbach có thể biểu hiện dưới dạng cách thức mà hành vi cá nhân và các quá trình xã hội tác động với nhau.[8]

“Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu trong mỗi cá nhân riêng biệt,” Marx viết. “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng thể (toàn bộ) các quan hệ xã hội.” Đối với Marx và Engels, con người không có một bản chất nội tại tách rời khỏi xã hội, cũng không đơn thuần là sự phản ánh về xã hội của mình. Trong số các đoạn trích dẫn có chọn lọc, Marx và Engels nhấn mạnh rằng “con người làm nên lịch sử của mình” cho dù hoàn cảnh của họ được kế thừa từ quá khứ. Hơn nữa, sự biểu hiện độc lập của các lực lượng xã hội, nghĩa là hoạt động của con người không nhất thiết phải đi đến những kết quả mong đợi. Thay cho “những quyết định đơn giản nhất”, các quan hệ sản xuất, những cách mà con người ta quan hệ với nhau khi tiến hành sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng các nhu yếu phẩm cho đời sống, đặt các quá trình vào vận động không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể hoạt động. Một mặt, các cơ cấu xã hội do các hoạt động của cá nhân tạo ra; “cơ cấu xã hội và Nhà nước phát triển liên tục từ các quá trình đời sống của các cá nhân hữu hạn”. Mặt khác, bản thân các quá trình đời sống này được hình thành từ các quan hệ sản xuất, vì con người “đang tác động, sản xuất một cách vật chất, và hành động trong những giới hạn xác định về vật chất, những tiền đề và những điều kiện độc lập với ý chí của họ.”[9]

Phép biện chứng Mácxít, do đó, đã mở ra con đường nghiên cứu hàng loạt các quá trình gắn chặt nhau, tức là nghiên cứu các phương diện khác nhau của sự hợp nhất, tạo nên lịch sử con người. Về phương diện sinh lý cá nhân, bản chất con người không phải là cái có sẵn mà là cái hỗn hợp các tiềm năng và các xu hướng được biểu hiện một cách khác nhau trong những điều kiện khác nhau; về phương diện xã hội, các quá trình lịch sử-xã hội thuộc về một trật tự hoàn toàn khác; ở giữa, khâu trung gian của cả hai, phương diện hành vi cá nhân hay tâm lý-xã hội cá nhân, con người hoạt động với tính cách là khâu liên kết của các quan hệ kinh tế-xã hội và trên bình diện hệ tư tưởng, các quan niệm của con người về quan hệ của họ với nhau và về quan hệ của họ với giới tự nhiên đều chuẩn theo các khái niệm truyền thống, phần thì tự giác phần thì thủ đoạn, bằng cách dựa vào bản chất của ngôn ngữ, với tính cách là hệ thống ký hiệu, để hợp pháp hóa tài sản của họ.

Cách tư duy như vậy không được mấy người hưởng ứng. Thay vào đó, khoa nhân loại học đang gặp phải những khó khăn do các trình bày phản lịch sử và quy giản ngày càng triệt để hơn. Trong lý thuyết cấu trúc, và gần đây hơn là trong khoa sinh học xã hội, các yếu tố quy định xã hội được xác định như là các kết quả của hoạt động và cuối cùng quy về thực thể được ấn định về mặt tâm sinh lý. Liệu chúng có phải là những khái niệm khác lạ như các khái niệm “conformer” (thích ứng) và các gien hành vi-đặc thù khác của Wilson, hay các cấu trúc sâu, vì mơ hồ nên khái niệm có vẻ dễ nghe hơn, của Lévi-Strauss, hay “các quan hệ giải phẫu thần kinh-sinh lý học thần kinh”, một khái niệm được diễn đạt một cách khoa học cho dù không được thuận tai lắm, của Laughlin và d’Aquili, các phát hiện của họ tất cả đều quy lịch sử và xã hội con người về những dự phóng đơn thuần của các xu hướng sinh học cá nhân với môi trường nhân tố tương tác độc lập duy nhất.*[10]

Kết quả của việc loại trừ một trình độ nào đó của tiến trình xã hội hoàn toàn độc lập với các xu hướng cá nhân cũng y hệt với việc cố giải thích các vận động của hệ mặt trời như là bắt nguồn từ những đặc tính của các hạt nguyên tử (hay các quá trình) cấu thành. Đúng ra, các vận động của hành tinh, xét theo bề ngoài, là tổng số tất cả các vận động của các hạt dưới nguyên tử, cũng giống như các quá trình xã hội, xét một cách thông thường, là tổng số các hoạt động cá nhân. Tuy nhiên, về mặt khoa học, sẽ là phi lý khi không nhận thấy rằng các vận động hợp quy luật của các thiên thể đều có lịch sử phát triển riêng của nó, vận hành ở một trình độ tác động lẫn nhau độc lập với các quá trình nội tại đặc trưng cho các bộ phận cấu thành của nó. Về phần xã hội, rất ít người trực tiếp cho rằng các quá trình xã hội cũng không vận hành ở một trình độ của nó. Tuy nhiên, trên thực tế, đó chính là điều mà các trình bày quy giản ngầm nói đến.

Các nhà nhân loại học khá dị ứng với chủ nghĩa quy giản sinh học đối với các biến thể tự nhiên của một trật tự chủng loài, và ở mức độ nào đó họ nhận thấy các trình bày của chủ nghĩa quy giản dùng làm hợp lý hóa tư tưởng hệ về sự áp bức. Đáng tiếc là đây không phải là trường hợp dành cho các biến thể tự nhiên của một trật tự giới tính. Mặc dù giới tính sinh lý và giới xã hội không đồng cấp (isometric) và được xác lập và làm tài liệu cho nhân loại học, các thảo luận đối chiếu văn hóa về vai trò giới tính nhìn chung rơi vào chủ nghĩa quy giản trong sự trình bày của họ.[11]

Đông đảo các nhà Mácxít, cũng như các nhà nghiên cứu khác, chuyển cấu trúc giới trong xã hội bóc lột giai cấp quen thuộc thành những khuynh hướng nội tại và thực tiễn được khuyến khích bởi sự phổ biến toàn thế giới trong thời gian gần đây của các chuẩn tắc phương Tây, ít ra là xét theo bề ngoài. Luận điểm vẫn còn phổ biến cho rằng những khác biệt về sinh lý giữa hai giới là hiện thân của những dấu hiệu về tình trạng lệ thuộc của nữ giới chỉ được biểu hiện một cách yếu ớt trong các nền văn hóa bình đẳng mà không thể hiện đầy đủ trong các xã hội đô thị được tổ chức thành nhà nước dựa trên cơ sở giai cấp. Thay cho cái thực thể được xét như là sự phát triển lịch sử, hệ thống cấp bậc được coi là một thứ sinh lý học về con người. Dù có trích dẫn nhiều phê phán điều này của Marx và Engels nhưng họ lại đi ngược với một quan điểm hoàn toàn Mácxít về bản chất con người đã được biết đến trăm năm qua trong hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội. Do bị chi phối bởi hệ tư tưởng đàn ông là ưu việt nên họ đi đến hay buộc phải đi đến tình trạng không nghiên cứu nghiêm túc cả lịch sử và lý luận trong sự giải thích về xã hội cộng sản nguyên thủy và nguồn gốc biến đổi của nó.[12]

NGUỒN GỐC CỦA HỆ THỐNG CẤP BẬC XÃ HỘI

Hai nhóm quan hệ được Marx và Engels coi là then chốt cho sự xuất hiện của hiện tượng bóc lột là: thứ nhất, sự mất quyền kiểm soát đối với quá trình sản xuất (tức là sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu thụ) qua sự phân công lao động vượt khỏi sự phân công theo giới tính; thứ hai là sự hình thành các cặp quan hệ[13]về sự phụ thuộc trong các gia đình cá nhân khi sự phân đôi tư nhân/công cộng được phát triển trong đời sống kinh tế và chính trị, làm cho gia đình trở thành các đơn vị kinh tế độc lập chứ không phải là các bộ phận của tập thể các nhóm công xã. Sự phát triển cơ bản của lịch sử được phân tích tỉ mỉ trong phần mở đầu bộ Tư bản của Marx và nội dung cốt lõi trong việc nghiên cứu lại giả thuyết tiến hóa Morgan của Engels trong Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước là sự chuyển đổi từ sản xuất cho tiêu dùng sang sản xuất cho trao đổi. Sự hình thành của sản xuất cho trao đổi có nghĩa là giá trị, với tính cách là thuộc tính của hàng hóa, bắt đầu thay thế tiêu dùng, với tính cách là đặc trưng của xã hội nguyên thủy. Với tính cách là kết quả của “lao động trừu tượng”, thời gian lao động được biểu hiện trong vật có khả năng trao đổi, trở nên độc lập với lao động cụ thể, sự phát triển rốt cuộc lại tạo lợi thế cho những người thực hiện trao đổi có thể điều tiết và bóc lột sức sản xuất của người khác. Cuối cùng, tiền tệ được phát triển trong các hình thức khác nhau với tính cách là vật mang giá chung, với tính cách là hàng hóa thuần túy. Marx nhấn mạnh rằng hình thức tiền tệ thừa nhận sự phi lý của bái vật qua đó các quan hệ của người biểu hiện ra như là các quan hệ của vật; do đó, cơ cấu bóc lột đã được thần bí hóa và sự tồn tại những khác biệt về giai cấp được hợp lý hóa.[14]

Trong Tiến hóa của xã hội chính trị, Freid nêu ra câu hỏi tại sao người ta chấp nhận sự kiểm soát của người khác đối với sản phẩm lao động của họ và thừa nhận tình trạng mất tính độc lập của mình.[15]Cho dù câu trả lời như thế nào chăng nữa, Fied nói, người ta cũng đã không nhận thấy tầm quan trọng của những biến đổi mà họ gây ra. Quả thật, khi đó họ không thông qua trao đổi và phân công lao động, người ta chỉ đơn giản là nâng cao đời sống của mình và mở rộng các quan hệ mật thiết liên nhóm và liên cá nhân, do đó mà tỏ ra vô can trong các quá trình đang vận động. Như Engels viết: “một hoạt động xã hội, một loạt các quá trình xã hội . . . càng có vẻ là vấn đề ngẫu nhiên thuần túy thì những quy luật riêng, cố hữu của chúng càng tự xác định trong tính ngẫu nhiên ấy.” Sản xuất hàng hóa và phân công lao động đi cùng với nó một cách chậm chạp nhưng chắc chắn dẫn đến sự phân hóa giai cấp; chúng tạo thành “các lực lượng xa lạ vô hình . . . vượt quá tầm kiểm soát tự giác của con người.”[16]

Cơ chế hàng đổi hàng giản đơn không tách người sản xuất ra khỏi việc quản lý trao đổi và phân phối. Tuy nhiên, khi cơ chế hàng đổi hàng trở nên quan trọng, nó đi đến sự mâu thuẫn giữa những lợi ích vật chất do sản xuất cho trao đổi được chuyên môn hóa và cơ cấu của toàn bộ chủ nghĩa bình quân tạo ra. Freid cho rằng sự nảy sinh của hoạt động tái sản xuất có vai trò quan trọng đối với sự hình thành địa vị xã hội, hình thức phân hóa xã hội đầu tiên. Tầm quan trọng của tái phân phối trở nên nổi bật và làm tâm điểm cho sự hình thành nền sản xuất hàng hóa với mọi hậu quả của nó. Hàng hóa được sản xuất cho trao đổi chứ không phải cho tiêu dùng tạo ra các nhóm tư bản mới. Trong thời gian dài, các quan hệ bình đẳng ngăn các cá nhân ở những vị trí then chốt trong mạng lưới trao đổi tái phân phối khai thác các khả năng kinh tế của địa vị của họ. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa các quan hệ bình đẳng sâu sắc thêm và, trong cái được gọi là xã hội giai cấp, người ta bắt đầu chấp nhận các vị trí phụ thuộc trong quan hệ với “các trưởng lão” và những người lãnh đạo khác để trục lợi từ những của bố thí gắn chặt với họ. Cuối cùng, sự chiếm hữu không bình đẳng giữa hay trong những dòng họ được tổ chức đủ sức cạnh tranh được hình thành, và sự mâu thuẫn, một mặt, giữa phân phối công bằng và tiêu thụ, mặt khác, giữa tiềm lực có được do trao đổi và sự nâng cao chuyên môn hóa lao động được giải quyết một phần. Nhưng những mâu thuẫn mới đã kết tinh giữa các tiềm lực do các quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng và các hình thái xã hội thích ứng với thân tộc tự trị và các nhóm làng xã, lần lượt được giải quyết qua sự phân tầng xã hội và tổ chức chính trị cùng với những xung đột quen thuộc của các xã hội giai cấp.[17]

Cùng với các phát triển nói trên, sự xuất hiện của phân đôi khu vực công/tư và sự hình thành các cặp quan hệ phụ thuộc trong nội bộ gia đình, với tính cách là các đơn vị kinh tế, là yếu tố cấu thành thứ hai của chế độ bóc lột và phân tầng xã hội. Trái lại, Lévi-Strauss thừa nhận là trong các xã hội bình đẳng, phụ nữ không phải là thứ để đàn ông mang đi trao đổi, mà thay vào đó, họ trao đổi hàng hóa với nam giới và giao phối giống với nam giới. Sự trao đổi trực tiếp giữa hai giới nam và nữ, ví dụ như trao đổi hàng lấy hàng một cách lẻ tẻ, không tách họ ra khỏi nền sản xuất riêng của mình. Thay vào đó, sự tha hóa phát triển theo quá trình phát triển của chế độ trao đổi khi các cá nhân lợi dụng gia đình huyết thống và gia đình mở rộng để tranh chấp giành lấy các quyền thống trị đối với nền sản xuất và phân phối các hàng hóa có giá trị. Các trách nhiệm đối với việc tiếp thị và trao đổi của giới thay đổi tùy theo những hoàn cảnh khác nhau và các lịch sử khác nhau đã thực hiện sự phân công lao động theo giới tính như thế nào, và vị trí trong cơ cấu ra quyết định của phụ nữ cũng theo đó biến đổi ra sao. Thế nhưng vẫn còn vấn đề là về đại thể khi trật tự đẳng cấp xã hội bắt đầu xóa bỏ các quyền bình đẳng của con người thì tại sao quyền tự trị và uy thế của phụ nữ, với tính cách là một giới tính, bị đe dọa chứ không phải là quyền tự trị và uy thế của đàn ông? Ngoài những lập luận khác nhau về tính ưu việt của nam giới, người ta cũng thường cho rằng những hạn chế tự nhiên của sự sinh nở và cho con bú là những hạn chế cơ bản. Thế nhưng, trong các xã hội bình đẳng, những hạn chế này không phải là những rào cản đối với phụ nữ.* Trên cơ sở học thuyết duy vật biện chứng như trình bày ở trên, tôi cho rằng vai trò quan trọng của khả năng sinh nở của phụ nữ thay đổi khi họ thiết lập các quan hệ mới trong quá trình không chỉ sản xuất ra những con người với tính cách là những cá nhân mà còn sản xuất ra cái đang trở thành lao động “trừu tượng”, tức là sản xuất ra cái lao động có khả năng bị bóc lột. Do đó, nguồn gốc của hệ thống cấp bậc giới là trùng khít với nguồn gốc của bóc lột và phân tầng xã hội.[18]

Engels đã vạch ra một sự đối lập rõ nét giữa vị trí của phụ nữ ở thị tộc Iroquois và vị trí của phụ nữ trong các xã hội gia trưởng ở Trung Đông và Địa Trung Hải thời Trung đại, nơi mà sự kiểm soát giới tính phụ nữ được đặc biệt coi trọng đối với việc thừa kế địa vị và tài sản. Theo ông, gia đình như là một đơn vị kinh tế có tầm quan trọng quyết định trong nội bộ giai cấp trên mặc dù nó đã phổ biến trong xã hội. Vào giữa thế kỷ 20, trường phái nữ quyền Mácxít bổ sung vào sự phổ biến toàn xã hội ấy của gia đình một chiều kích mới. Sự phụ thuộc của phụ nữ trong nội bộ gia đình với tính cách là một đơn vị kinh tế cho phép giai cấp trên có thể bóc lột hơn nữa giá trị thặng dư của những người công nhân, những người nông nô và những người nô lệ. Sự thật là công việc nội trợ có thể tách khỏi khu vực công, và có thể phụ nữ với tính cách là người được nam giới bảo trợ phải gánh vác công việc đó để đảm bảo cho người thuộc giai cấp trên sự tái sản xuất và sinh hoạt của người công nhân thông qua lao động không được trả công, nói khác đi là lao động nô lệ. Điều này không có nghĩa là sự sắp đặt đã được cân nhắc kỹ càng từ trước và bất kỳ sự phát triển mang tính lịch sử chủ yếu nào khác trong quá khứ cũng vậy. Tuy nhiên, trong những ghi chép về tình trạng ngày càng giảm sút về các quyền pháp lý và xã hội của phụ nữ trong thời Cổ đại Hy-La còn lưu lại dấu vết một số giải pháp theo đó sự phụ thuộc trong gia đình của phụ nữ được củng cố thêm bởi sự thừa nhận của xã hội và được chuẩn y về tư tưởng khi những ưu thế kinh tế của nó được thực hiện.[19]

Dù sao đi nữa thì tất cả những thứ ấy sẽ tồn tại đến chừng nào tình trạng phụ thuộc của phụ nữ bước vào giai đoạn chung cuộc. Phần lớn các xã hội mà khoa nhân loại học đang nghiên cứu đều trải qua những điểm giai đoạn sơ khởi nhất, tại những thời điểm đó quyền tự trị của phụ nữ bắt đầu bị đe dọa và một sự đố kị nào đó giữa nam và nữ bắt đầu xuất hiện nhưng không hề hạ thấp phụ nữ, về pháp lý và chính trị, xuống thân phận kẻ được bảo trợ như trong giai đoạn xã hội có sự phân hóa toàn bộ. Tôi cho rằng trong các xã hội như vậy, cơ cấu giới cần phải được giải thích: cơ cấu của trao đổi và phân công lao động; cơ cấu đẳng cấp và địa vị mà một vài bộ phận của xã hội có được để kiểm soát lao động của xã hội; cơ cấu thân tộc và sự mở rộng để các dòng họ trở thành các phường hội cạnh tranh, chứ không phải là phương tiện tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm, trong các làng công xã; cái địa vị mà với nó hạnh phúc của nhóm người này không chỉ là tương đối mà còn gây tai hại cho các nhóm người khác trong xã hội; và từ đó, xét cơ cấu hôn nhân cho việc kiểm soát con cái với tính cách là những người lao động có thể bị bóc lột hay với tính cách là những người bóc lột lao động.[20]

Trong cái gọi là xã hội giai cấp, người phụ nữ bắt đầu chuyển từ vị trí là người tạo ra giá trị, là những người thiết lập các mạng lưới quan hệ trao đổi và có quyền sử dụng những cơ chế được công bố một cách công khai để điều hòa lợi ích của phụ nữ, sang vị trí người phục dịch trong gia đình nhà chồng hay trong các nhóm thân tộc của họ. Của hồi môn của cô dâu bắt đầu mang lấy hình thức mua con cái do người phụ nữ ấy đẻ ra chứ không phải hình thức trao đổi quà tặng. Sacks đã tiến hành khảo sát mối quan hệ của những diễn biến như thế dẫn đến việc xuất hiện sự chênh lệch địa vị ở những người phụ nữ cũng như sự chênh lệch địa vị giữa đàn ông và đàn bà. Bà chứng minh rằng lợi ích của việc tách vị thế người vợ ra khỏi vị thế người chị em của phụ nữ là để thấy rõ phạm vi thực hiện quyền lực công khai của mình qua hoạt động điều khiển các quan hệ họ hàng trong các xã hội đang dần hình thành sự phân tầng kinh tế và hệ thống cấp bậc giới. Sanday nhấn mạnh sự thật là phụ nữ có thể bảo vệ và duy trì tốt quyền lực công cộng của họ trong những hoàn cảnh phân tầng xã hội, một sự thật được chứng thực qua khối dữ liệu khổng lồ về các xã hội châu Mỹ và được giả định qua trường hợp thị tộc Crete cổ. Tất cả, tâm điểm của các diễn tiến nói trên và những nét đặc thù của quá trình mở rộng của chúng trong những điều kiện môi trường, văn hóa, lịch sử khác nhau, đều cho thấy rằng những thay đổi về địa vị nữ giới không phải là hiện tượng thứ yếu, như một số người ngầm hiểu, cũng không phải là cái có trước so với hệ thống cấp bậc kinh tế, như một số người quan niệm. Chúng là phần cốt lõi, không thể tách rời của những chuyển biến sâu sắc đang diễn ra cùng với sự phát triển trao đổi và phân công lao động.

Tình trạng phụ thuộc về kinh tế và xã hội của phụ nữ xuất hiện ở một vài nơi trên thế giới cách đây hàng ngàn năm, nó cũng diễn ra ở những nơi khác trên thế giới vào lúc người châu Âu tiến hành khai thác và chinh phục và nó cũng phát triển ở những nơi còn lại trong bối cảnh chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Ở đây, tôi cho rằng để giải thích quá trình phát triển này một cách đúng đắn thì cần phải: một là làm sáng tỏ khái niệm chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy, gạt bỏ các luận điểm máy móc cho rằng tình trạng phụ thuộc của nữ giới là một hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng lịch sử, và hai là phải nghiên cứu kỹ càng một xã hội trong bối cảnh lịch sử đặc thù của nó, tiền thuộc địa hay là hậu thuộc địa. Còn bây giờ tôi quay trở lại luận điểm thứ hai.

BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA PHÂN TÍCH NHÂN LOẠI HỌC

Con người thật sự mà các nhà nhân loại học đương đại nghiên cứu không phải là những người săn bắt-hái lượm hay những người làm vườn hay bất kỳ những người nào khác có quyền tự trị. Bằng cách này hay cách khác, các quan hệ tư bản chủ nghĩa cũng đã ảnh hưởng họ cả một thời gian dài. Dù bản chất cụ thể của quá trình một dân tộc dính líu đến chủ nghĩa tư bản như thế nào chăng nữa thì chiều hướng thay đổi cuối cùng cũng đều cùng chung một kết quả: cá nhân hóa và tha hóa lao động, cá thể hóa gia đình hạt nhân và việc hạ thấp phụ nữ xuống thành lao động không công trong gia đình và lao động xã hội với tính cách là lực lượng lao động không ổn định và không được trả lương thỏa đáng. Con người không còn khả năng kiểm soát các quá trình và các sản phẩm lao động của họ và bản thân sức lao động của họ ngày càng bị biến thành một thứ hàng hóa có thể mua bán nếu không muốn nói toạc ra là chiếm đoạt. Trách nhiệm chăm lo thế hệ mới chuyển dần từ các dòng họ hay nhóm lớn sang các gia đình cá thể. Bị lý tưởng hóa từ những bài truyền giáo về tình yêu thương chăm sóc chồng con cho nên, trên thực tế, lao động trong gia đình của phụ nữ trở thành món quà tặng cho các chủ đồn điền hay chủ hầm mỏ, cho nhà sản xuất hay cho doanh nhân vơ vét lợi nhuận từ lao động của những ông chồng và của những đứa con, rồi mua thêm sức lao động của họ với giá rẻ mạt.[21]

Các chi tiết lẻ tẻ như lao động ở đồn điền và các giao dịch thương mại thường bị bỏ qua khi các dữ kiện về cái được gọi là các xã hội truyền thống được hệ thống hóa và được đóng lên các thẻ IBM để so sánh đối chiếu văn hóa.[22]Không có gì làm lạ khi một nghiên cứu phân tích gần đây kết luận rằng không hề có các mối tương quan nhất quán giữa vị trí của phụ nữ trong xã hội. Nhưng cũng may là công việc tái thiết, về khảo cổ và lịch sử tộc người, các lịch sử văn hóa tiền thuộc địa và văn hóa thuộc địa đang tiến triển nhanh và có thể sẽ làm sáng tỏ các trường hợp còn nghi vấn mà ở đó hình như mối quan hệ giữa sự phụ thuộc của nữ giới với tình trạng bất bình đẳng về kinh tế là rất ít.[23]

Tôi cũng có đối chiếu với tình hình ở Bắc Mỹ (phía bắc Mêhicô), là khu vực rộng lớn nhất thế giới có nhiều dân tộc bình đẳng cư ngụ cùng lúc với sự bành trướng của phương Tây. Chế độ đẳng cấp được thiết lập ở các vùng ven biển, nhất là dọc theo vịnh Mêhicô và phía bắc Thái Bình Dương, thế nhưng tuyệt đại đa số các thổ dân Bắc Mỹ vẫn duy trì các cơ cấu kinh tế-xã hội bình đẳng. Người Iroquois chính là ví dụ tốt nhất về tình hình bình đẳng giới chung cho Bắc Mỹ; và ngược với quan điểm của Lévi-Strauss, người Iroquois không phải là trường hợp ngoại lệ. Thay vào đó, họ có thể là một ví dụ làm tư liệu rất tốt về mối quan hệ kinh tế và chính trị đi cùng với chế độ mẫu quyền dòng họ-mẫu quyền địa phương ở những người làm vườn ở Bắc Mỹ. Ở các dân tộc săn bắt-hái lượm thì người Inuit (Eskimo) được người ta thường xuyên dẫn ra làm ví dụ cho tình trạng đối xử phụ nữ một cách thô bạo của nam giới trong một xã hội bình đẳng khác, tình hình ấy hình như cũng tương tự như những gì chúng ta biết về tình trạng phụ thuộc của phụ nữ ở người Chipewyan. Song các bản báo cáo mô tả tộc người về tính độc lập và tinh thần quyết đoán của phụ nữ ở người Inuit chỉ ra rằng phân tích lịch sử tộc người, đã lỗi thời từ lâu, sẽ cho thấy cái bản tính ngược đãi của nam giới hiện nay là xuất phát từ sự băng hoại đạo đức và tình trạng nát rượu của họ mà nhiều cộng đồng người Inuit phải chịu đựng. Vì đối với trường hợp người Chipewayn, người ta chỉ dựa vào một bản báo cáo về những người môi giới trong lĩnh vực kinh doanh lông thú, là “kíp” những người công nhân tận tụy hiếm có được chọn làm trong công ty Hudson’s Bay, chứ không phải là về những người hoạt động săn bắt tự do của bộ tộc Chipewayn. Đặc điểm các quan hệ được trình bày trong đó rõ ràng là trái ngược với các ghi chép của người Do Thái thế kỷ 17 về sự bình đẳng trong các quan hệ giới ở người Montagnais-Naskapi.

AUSTRALIA

Thổ dân Australia cung cấp khá nhiều cơ sở cho các luận điểm rằng sự thống trị của nam giới là một hiện tượng tâm lý xã hội phổ biến và là một hiện tượng tâm sinh lý phổ biến chứ không phải là một sự phát triển của lịch sử. Quyền kiểm soát hôn sự của nữ giới, quyền truyền kế đất đai, cư trú theo chồng, thô bạo với phụ nữ, không cho phụ nữ tham dự các nghi lễ quan trọng trong một xã hội chưa có giai cấp… tất cả các quyền ấy của nam giới tạo thành một hệ thống có tính chất áp đặt và người ta cứ thế mà cứ ghi đi chép lại. Để cho chắc chắn, các dữ liệu bổ sung cho những gì được khái quát ấy bắt đầu tự khẳng định. Trong vấn đề hôn sự, những người lớn tuổi, cả nam lẫn nữ, đều cùng nhau bàn bạc, trong khi đó, nam nữ thanh niên lại ít khi tham gia ý kiến. Khi các cô gái lần đầu tiên kết hôn, nhìn chung, đều lấy những người đàn ông lớn tuổi, và các chàng trai cũng thế, họ thường lấy những người phụ nữ lớn tuổi hơn. Người phụ nữ nào cũng có cây gậy không những dùng để tự vệ mà còn dùng để đối phó với những hành vi bất chính của bọn đàn ông; họ không bị đàn ông uy hiếp. Thêm vào đó, nếu bị đánh oan, một người phụ nữ sẽ phản ứng một cách đơn giản là bỏ đi, hoặc vào khu vực dành riêng của mình trong lều, khu vực này đàn ông không được phép đặt chân vào. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong một số nghi lễ của nam giới và đồng thời họ cũng tỏ ra bàng quan với các nghi lễ mà họ không được tham dự, họ chỉ hứng thú với các nghi lễ riêng của họ, mà những nghi lễ này thì đàn ông không được tham gia. Tindale đã chỉ ra rằng ở người Pitjandara, sống vùng phía tây Australia, phụ nữ gọi các nghi thức dành riêng cho nam giới là một thứ hạn hẹp khi họ thấy mình đang đi quá xa vì cái ăn, họ muốn rời trại. Bell làm việc ở một khu thuộc Bắc Trung bộ Australia, ở nơi đó “công việc duy trì luật lệ và trật tự … vẫn còn là sự hợp tác giữa nam và nữ, và những người này thường hỗ trợ lẫn nhau trong một số vấn đề, còn trong những vấn đề còn lại, họ lại khẳng định các quyền độc lập của mình.

Tuy nhiên, trong khi các dữ kiện nói trên quy định bức tranh về sự thống trị của nam giới mà người ta gán cho những người săn bắt-hái lượm Australia thì cái bối cảnh lịch sử của xã hội của người bản địa trong thế kỷ 20 phải được nghiên cứu nếu như bức tranh ấy tỏ ra mâu thuẫn trong chỉnh thể. Trước hết và quan trọng hơn hết, nếu không đánh giá các tác động của tội diệt chủng tàn bạo mà người dân bản địa phải gánh chịu là đi ngược lại tinh thần khoa học và trái với đạo lý con người. Sự tàn bạo đối với người bản địa Australia bắt đầu từ những vụ tấn công đầu tiên của người Malays vào xứ này cho đến những cuộc khai thác lẻ tẻ của người châu Âu và sự thiết lập khu lưu đày tội phạm vào năm 1788, mà ngày nay khu ấy được biết dưới tên là Sydney; qua việc lấn chiếm dần dần đất đai của người bản địa và cùng với nó là sự bắn giết, đầu độc, đánh đập, nô dịch cộng thêm những căn bệnh chết người; rồi tiếp đó là các định chế thô bạo về chính sách và các định chế phân biệt chủng tộc hiện nay. Người ta không thể nói về tình trạng ngược đãi phụ nữ của nam giới như thể nó tách rời với kiểu bạo lực nơi biên giới, ở nơi đó tình trạng băng hoại đạo đức ngày càng thêm trầm trọng do ảnh hưởng của tệ nạn rượu chè.

Thứ hai, không thể biện hộ, và cũng không nên biện hộ cho phân tích các quyền sở hữu đất đai ở Australia mà không xét đến tác động của việc cưỡng bức di dân ra khỏi các khu vực ven biển và của áp lực của hậu quả đất đai ở những vùng đất sâu trong lục địa mà đông đảo những người thổ dân trốn chạy tới đó. Vài cuộc gặp gỡ ban đầu giữa người châu Âu và người bản địa diễn ra một cách hữu nghị, nhưng những người châu Âu hở một tý là đụng tới súng, và có vẻ như đôi khi người bản địa đánh trả lại bằng hành động có mục đích rõ ràng là coi kẻ thù của mình là một thứ lương thực. Do đó, một khi nhận thấy rằng thật sự không có vàng hay những thứ của cải dễ khai thác khác trên đất đai của thổ dân thì hầu hết những người khai thác đầu tiên đến từ châu Âu đều sẵn sàng bỏ mặc Australia. Tiếp đến là sự kiện du nhập giống cừu Merino vào New South Wales năm 1797, và sau đó, năm 1813, phát hiện ra những cánh đồng cỏ mênh mông ở phía tây dãy Blue Moutains, tất cả các sự kiện ấy biến Australia thành nơi sản xuất len dạ lớn nhất thế giới. Cứ thế mà phát triển. Vùng đất trù phú phía đông nam, nơi có khoảng 400 đến 600 người thường tập trung lại để tổ chức thành xã hội vào những mùa nhất định, sống dựa vào hải sản và các loại tôm tép, chẳng mấy chốc số dân bản địa đã bị giảm. Số thì bị giết hại, số thì di chuyển về phía tây, và số ít ỏi còn lại gia nhập vào cộng đồng người da trắng bằng con đường hôn nhân. Những người chăn nuôi gia súc cũng đổ dồn về phía tây, nô dịch thổ dân, buộc thổ dân làm việc, và nếu họ phản kháng thì dùng vũ lực mà đàn áp. Khi bị dồn về phía tây và dồn sâu vào lục địa, cách xa các trung tâm đang mở rộng các khu định cư của người da trắng. Cũng như các thổ dân châu Mỹ, các thổ dân Australia cần nhiều thời gian để xây dựng nên một cộng đồng có bản sắc chung, có lịch sử chung và cùng nhau đấu tranh. Dĩ nhiên là những người Australia da trắng lợi dụng và khắc sâu thêm mối bất hòa giữa những người thổ dân, tán dương các nhóm “chủ hòa” và dùng các nhóm ấy nô dịch và thống trị các nhóm thổ dân khác.

Daisy Bates, hơn bốn mươi năm sống trong một căn lều biệt lập ở nam Australia và thường lên tiếng cảnh báo về số phận các thổ dân nơi đây, đã ghi chép lại tình trạng băng hoại đạo đức ở những người thổ dân lưu vong còn sót lại. Mặc dù bản báo cáo của bà còn có giọng điệu kẻ cả và nhiều sai lầm nhưng nhiều sự kiện mà bà tường trình tựa như nỗi đắng cay quá sức chịu đựng về tình trạng tự tử tập thể của tộc người Ik mà Turnbull đã mô tả lại. Một cảnh tượng lạ lùng xảy ra sau đó khi Bates tháp tùng Radcliffe-Brown đến khu vực cay nghiệt dành cho người sắp chết, ở đó những người thổ dân bệnh tật và sợ hãi, sống tách biệt với cộng đồng, đang chờ đợi cái chết. Bà kể lại rằng Radcliffe-Brown yêu cầu những người đàn ông luống tuổi hát cho ông ghi âm những bài hát dùng trong nghi lễ và để đáp lại, ông mở cho họ nghe những bản nhạc của Tannhauser và Egmont.[24]

Vào thế kỷ 20, đủ loại bệnh tật và nạn diệt chủng đã làm giảm dân số thổ dân Australia từ khoảng 300.000 người, hoặc trên mức đó, xuống còn dưới 40.000 người. Đến giữa thế kỷ 20, cùng với chính sách “ổn định hóa” các khu vực cư trú cho thổ dân, chế độ cấp phát nhu yếu phẩm và chăm sóc y tế của chính phủ hay của các khu truyền giáo, dân số người bản địa bắt đầu tăng trở lại. Đời sống tín ngưỡng cũng vậy, mặc dù chỉ thực hiện có mỗi một chức năng mới là tập trung khẳng định bản sắc và tinh thần tự trọng của một dân tộc bị mất độc lập, nhưng nó bắt đầu phục hồi và lan rộng. Số lượng các nhà nhân loại học ngày một đông hơn, nhất là những người muốn nghiên cứu đời sống của những người săn bắt-hái lượm nguyên thủy. Họ thường phỏng vấn những người sống cách xa các khu truyền giáo hay cách xa các trại chăn nuôi gia súc chứ không phỏng vấn các nhân viên phục vụ trực tiếp gắn với các tổ chức như thế. Song hiếm khi họ hỏi sâu về lịch sử một dân tộc, thậm chí họ chẳng màng hỏi đến các chế độ nhà nước hiện hành đối với những người thổ dân như chế độ cấm hôn nhân ngoài khu vực cư trú.

Chúng ta nên làm rõ vấn đề. Phớt lờ đi các hiện thực lịch sử, kinh tế, chính trị của đời sống thổ dân là nhằm đánh bóng cho những tác động của hoạt động xâm chiếm và áp bức, và do đó đã hiểu sai các quan hệ xã hội có được khi các thổ dân đã là những người săn bắt-hái lượm tự trị trong việc kiểm soát thế giới xã hội riêng của họ. Về quan hệ giữa nam và nữ, khi bóc cái vẻ bề ngoài các tư liệu lịch sử tộc người ta sẽ thấy những giả định về vai trò quan trọng trước kia của phụ nữ, như Howitt từng đề cập đến những người phụ nữ đứng tuổi có vai vế ở vùng Đông Nam Australia. Song chỉ đến thời gian gần đây thì quan điểm ấy mới được người ta thừa nhận. Cách đây khoảng một trăm năm, Spencer và Gillin đã lưu ý một khu vực để tiến hành nghi thức khai tâm cho nữ giới trong ba ngày ở người Arunta và có bình phẩm rằng “đó là thời gian mà người phụ nữ có vai trò xã hội quan trọng hơn so với tình trạng hiện nay đối với những nghi thức như vậy”. Điều đáng tiếc là họ không đưa thêm được một thông tin nào ngoại trừ sự nhàm chán của nghi thức ấy trong cách nhìn của họ. Trong cuốn Tôn giáo Australia, mới được tái bản gần đây, Mireca Eliade có nhắc đến nhiều nam thần tối cao nhưng không hề nhắc đến nhân vật huyền thoại quan trọng luôn xuất hiện trong các trang viết của Spencer và Gilline là nữ thần Mặt trời. Eliade viết rằng nghi thức khai tâm cho con gái đơn giản hơn cho con trai và nó đối lập thẳng thừng với những dữ kiện mô tả tộc người mở đầu bằng cách nói: “như mọi nơi khác trên thế giới”.

Trong bản tường trình về người Tiwie, nhóm tác giả Hart và Pilling đã nêu lên tính cần thiết phải nghiên cứu lịch sử tộc người. Họ mô tả các ảnh hưởng của hoạt động truyền giáo cũng như nạn mãi dâm đã cổ xúy cho nam giới kiểm soát hoạt động tính dục của phụ nữ trong thế kỷ 20 như thế nào và tiếp tục nghiên cứu xem những ảnh hưởng ban đầu đã tác động lên nền chính trị trao đổi vợ (politics of wife-trading) như thế nào. Nhóm tác giả ấy viết rằng nghiên cứu tài liệu lưu trữ là cần thiết để xác định quy mô của hoạt động cướp bóc nô lệ của người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 18. Bởi vì có thể chính những người đàn ông trẻ tuổi bị bắt đến Timor, họ cho rằng chế độ nô lệ có thể đã khuyến khích sự thống trị và độc quyền đối với các bà vợ ở những người đàn ông Tiwie luống tuổi.

[Leacock còn đưa ra thêm ba trường hợp minh họa cho mô tả tộc người, nhưng vì khuôn khổ có hạn chúng ta không thể in lại ở đây. Và dưới đây, chúng tôi sẽ tóm tắt các trường hợp đó.

Trong phần viết có tựa đề “Amazon”, gồm 1,100 chữ và 11 chú thích, lần đầu tiên Leacock phân chia lịch sử Amazon thành 5 giai đoạn. Đầu tiên là giai đoạn tiền thuộc địa, còn các giai đoạn kia bà nhấn mạnh đến những tác động của quá trình thực dân hóa. rồi sau đó bà đi đến bàn về người Yanomamo và khẳng định rằng bức tranh về người Yanomamo như là “những kẻ xấu xa” là nhằm biện hộ cho hoạt động phá hoại các khu rừng Amazon. Trích dẫn nhà địa lý học William J. Smole (1976), Leacock cho rằng người Yanomamo, qua nghiên cứu của Chagnon, bị biến thành thứ xấu xa vì họ đã đối đầu lại những kẻ xâm lược Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Smole cũng đã nói rằng vị trí của phụ nữ ở người Yanomamo trên cao nguyên mà ông nghiên cứu tốt hơn nhiều so với những gì Chagnon trình bày. Leacock kết thúc mục bài viết này bằng cách tuyên bố rằng chính nghiên cứu không nghiêm túc về lịch sử và chính trị Yanomamo của Chagnon đã làm cho bức tranh của ông về tính gây hấn và sự thống trị của nam giới ở một dân tộc gần như vẫn còn trong tình trạng nguyên thủy mất đi độ tin cậy cần thiết.

Trong phần viết có tựa đề “Melanesia”, gồm 836 từ với 6 chú thích, Leacock cho rằng các xã hội ở Tân Guinea thường được viện dẫn như là bằng chứng thực tế cho tình trạng phụ thuộc của nữ giới trong các xã hội bình đẳng.Song điều này không đúng vì từ xưa, công việc tưới tiêu và hoạt động trao đổi buôn bán giả định là ở khu vực này đã bắt đầu xuất hiện hiện tượng phân tầng xã hội. Hơn nữa, các quan hệ buôn bán với những người Malays, Trung Quốc và với những người Châu Âu có thể phá vỡ các quan hệ bình đẳng. Sự đố kị thường biểu hiện giữa nam và nữ khiến chúng ta nghĩ đến một xã hội mà trong đó địa vị xã hội được xác lập và phụ nữ bị mất quyền kiểm soát đối với nền sản xuất của họ. Sự thật là, ở Tân Guinea, phụ nữ thường phản ứng lại trình trạng phụ thuộc của mình một cách giận dữ không úp mở chứ không phải thụ động chấp nhận càng khiến chúng ta nghĩ đến các xã hội mà ở đó quá trình phân hóa chỉ mới bắt đầu diễn ra. Các quan hệ này càng ngày càng trầm trọng thêm do sự lấn chiếm của người châu Âu, sự lấn chiếm ấy khiến cho các bộ tộc càng ngày càng trở nên xung đột với nhau.

Phần viết có tựa đề “Africa”, gồm 2000 từ với 19 chú thích, là sự phê phán có tính căn bản về công trình của các nhà Tân Mácxít Pháp là Claude Meillassoux và Emanuel Terray. Các công trình của họ có ý nghĩa cơ bản trong sự phát triển tư tưởng Mácxít ở lĩnh vực nhân loại học trong những năm 1969 và 1970, cả hai người đều làm việc tại châu Phi. Các nhà Tân Mácxít Pháp đã thoát ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của Nhân loại học Mácxít của trường phái Xô Viết. Các nhà tộc người học Xô Viết chỉ thừa nhận sự thống trị của phương thức sản xuất do Marx, và lược đồ của Morgan, vạch ra đối với sự phát triển của xã hội. Các nhà Tân Mácxít Pháp đã mở rộng khái niệm phương thức sản xuất, bao hàm cả những phương thức mới phù hợp với các xã hội mà các nhà nhân loại học đã nghiên cứu. Họ cũng được học hỏi nhiều hơn ở Lévi-Strauss và chịu ảnh hưởng sâu sắc các quan niệm của ông về trao đổi và vai trò của phụ nữ. Leacock bắt đầu bằng quan niệm cho rằng lịch sử châu Phi là cực kỳ phức tạp nhưng cái lịch sử ấy thường không được người ta biết đến. Dù có một vài ngoại lệ nhưng mô tả tộc người về các xã hội châu Phi đã cho thấy người phụ nữ bị đặt dưới quyền của đàn ông là không thể chối cãi. Song nghiên cứu lịch sử tộc người lại cho thấy rằng vị trí của người phụ nữ châu Phi bị xấu đi khi sự thống trị của thực dân bắt đầu thiết lập. Trước khi có chủ nghĩa thực dân, họ thường đóng một vai trò chính trị quan trọng trong cộng đồng. Mặc dù trong các xã hội đẳng cấp, ngoại trừ một số quốc gia Hồi giáo, quyền tự trị của phụ nữ bị suy giảm nhưng nó không bị phá vỡ.

Leacock vạch ra sai lầm của các nhà Tân Mác xít Pháp vì không sử dụng quan niệm của Engels, cái quan niệm cho rằng sự nô dịch phụ nữ là vấn đề quan trọng đối với quá trình phát triển hệ thống thứ bậc khi phân tích các xã hội đẳng cấp ở châu Phi. Vì họ tán thành với quan điểm của Lévi-Strauss về sự nô dịch phụ nữ có tính chất phổ biến và họ có xu hướng rút gọn các xã hội bình đẳng và các xã hội mới hình thành đẳng cấp vào một phương thức sản xuất cụ thể nào đó. Điều này che lấp các quá trình cơ bản của sự hình thành hệ thống thứ bậc. Trong công trình nghiên cứu của Terray về người Gayman, vấn đề trở nên rõ ràng hơn. Terray coi các quan hệ thân tộc ở người Gayman là các quan hệ bóc lột phụ nữ và thanh niên. Các quan hệ này cuối cùng bị các quan hệ dựa trên chế độ nô lệ thống trị. Song Terray không truy tìm nguyên nhân tại sao phụ nữ lại bị bóc lột trước tiên. Còn Leacock lại tìm thấy câu trả lời trong công trình của Terray. Theo bà, Terray quan niệm rằng cơ cấu dòng họ có quan hệ với cơ cấu chính trị, nhưng không phải là cái có trước cơ cấu chính trị; hơn nữa, “thanh niên” là một đẳng cấp có thể gồm cả những người đàn ông quá tuổi thanh niên. Cuối cùng, lao động nô lệ được sử dụng trong phương thức sản xuất gia tộc. Do đó, Terray không nhận thấy rằng sự bóc lột phụ nữ và thanh niên trong phương thức sản xuất gia tộc cần thiết cho sự tồn tại của xã hội đẳng cấp nhưng không phải là cái có trước xã hội ấy. Terray cũng không thể xét thấy khu vực đô thị có quan hệ không bình đẳng đã thu hút khu vực nông thôn có quan hệ bình đẳng. Phân tích của ông cũng thiếu sức thuyết phục vì không thể xem xét những biến đổi xảy ra khi vạch trần chế độ nô lệ châu Âu.]

KẾT LUẬN

Trên nhiều lĩnh vực, nghiên cứu các hoạt động kinh tế xã hội của phụ nữ đã làm lung lay một số các giả định được xây dựng về xã hội và lịch sử. Tôi từng cho rằng chỉ khi nào hệ thống thứ bậc giới được xem xét như là vấn đề lịch sử, chứ không phải là một dữ kiện tâm sinh lý, thì cơ cấu các quan hệ cộng sản nguyên thủy mới được hiểu một cách đúng đắn và vai trò của trao đổi trong quá trình biến đổi của các quan hệ ấy sẽ được sáng tỏ hơn. Sự cần thiết có một lý thuyết có hiệu lực về trao đổi trong các xã hội tiền tư bản được nhận thức sâu sắc bởi các nhà nhân  học nhưng có điều mỉa mai là lý thuyết đó, đặc biệt là các lý thuyết nhân loại học Mác xít, theo truyền thống cấu trúc, lại gắn với toàn bộ quan niệm phản-Mác xít về hiện tượng trao đổi phụ nữ như là hiện tượng cơ bản trong xã hội cộng sản nguyên thủy.[25]Chỉ khi nào cách trình bày như thế được yêu cầu một cách nghiêm ngặt thì các giai đoạn ban đầu của tiến trình phụ nữ thật sự trở thành một thứ hàng hóa để trao đổi mới có thể được làm sáng tỏ. Bởi lẽ các giai đoạn ấy không thể tách khỏi những bước ban đầu trong quá trình chuyển đổi từ sử dụng sang giá trị, từ lao động sang lao động trừu tượng và từ sản xuất hợp tác sang bóc lột.

Một lý thuyết có hiệu lực về trao đổi hàng hóa cần thiết cho cả phân tích các xã hội tiền tư bản lẫn giải thích những tác động lên các xã hội ấy của thực dân hóa và chủ nghĩa đế quốc. Chỉ khi nào vấn đề giới trong các xã hội cộng sản nguyên thủy được hiểu như là những hoạt động trao đổi hàng hóa và các dịch vụ một cách độc lập về mặt kinh tế thì toàn thể lực lượng các quan hệ tư bản chủ nghĩa trong việc lật đổ lao động của phụ nữ, và do đó, làm thay đổi toàn bộ cơ cấu các quan hệ trong các xã hội ấy, mới có thể được nhận thức một cách sâu sắc. Đến lúc ấy, huyền thoại về quà tặng mô tả tộc người sẽ vẫn còn biện hộ cho giả định, rất thịnh hành trong khoa học bình dân (pop-science) và truyền thông đại chúng, rằng cái tư tưởng phổ biến coi người đàn ông là trụ cột của gia đình, mà phụ nữ và trẻ em tạm thời phụ thuộc họ, đã phản ánh nhu cầu hay chiều hướng nào đó của con người. Đến lúc ấy, lịch sử văn hóa và truyền thống văn hóa của các dân tộc thế giới thứ ba sẽ còn bị hiểu nhầm, bị bóp méo cho phù hợp với lợi ích của sự bóc lột tư bản chủ nghĩa.

Đinh Hồng Phúc dịch


Nguồn: R. John McGee, Richard L. Warms. 2003. Anthropological Theory: An Introductory History. Third Edition, Publisher McGraw-Hill, pp. 485-500.



[1]
Quan điểm Mácxít nữ quyền của Leacock biểu hiện trực tiếp trong đoạn văn mở đầu này. Ở đây, bà đề cập đến một số vấn đề trung tâm của các nhà Mácxít và các nhà nữ quyền cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970. Những điều này gồm cả sự phê phán khái niệm quà tặng mô tả tộc người (xem cước chú 4) cũng như sự tuyên bố rằng phụ nữ không chỉ có vai trò quan trọng như nam giới mà các quan hệ giữa đàn ông và đàn bà là những yếu tố cơ bản làm khuôn mẫu cho xã hội.

Trong bài viết này, khái niệm chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy rất quan trọng. Marx và Engels cho rằng các xã hội nguyên thủy là xã hội cộng sản. Tư tưởng này được củng cố nhờ mô tả của Lewis Henry Morgan về xã hội nguyên thủy như có cơ cấu đời sống cộng sản, có tự do và bình đẳng (1871, 1877). Những mô tả này cung cấp dữ kiện cho Marx và Engels.

Trong câu cuối, Leacock đề cập tới công trình Các cấu trúc sơ đẳng của họ hàng của Lévi-Strauss. Trong tác phẩm đó, Lévi-Strauss cho rằng sự kiện phụ nữ trở thành hàng hóa trao đổi của nam giới là một trong những yếu tố khuôn mẫu cơ bản nhất của xã hội. Bạn đọc có thể tham khảo thêm lý thuyết của Lévi-Strauss trong phần dẫn luận của mục “Thuyết Cấu trúc” trong sách này. Lévi-Strauss có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của tư tưởng Mácxít bởi lẽ nhiều nhà Mácxít hàng đầu của Pháp trong những năm 1960 và 1970 đều là học trò của ông.

[2]Nhà khảo cổ William Duncan Strong (1899-1962) là học trò của A. L. Kroeber và là bạn học với Julian Steward. Strong là nguồn ảnh hưởng chủ đạo đối với Leacock trong thời gian ở Columbia. Ông đã tiến hành tổ chức cuộc nghiên cứu mở rộng tại miền Tây nước Mỹ, ở Labrado, và cùng với học trò của mình, Gordon Wiley (1913-), tiến hành nghiên cứu ở Peru. Mặc dù không phải là nhà Mác xít, nhưng Strong nhấn mạnh tới vai trò lịch sử trong nhân loại học, phê phán thuyết Tiến hóa đã không nghiên cứu đầy đủ lịch sử và các phương pháp tiếp cận của thuyết Chức năng không biết đến lịch sử, như thuyết của A. R. Radcliffe-Brown (Solecki và Wagley 1963). Sau khi Strong mất, Leacock biên soạn các bài viết mà ông đã lưu giữ trong thời kỳ tiến hành nghiên cứu điền dã ở những người da đỏ Naskapi. Mặc dù bà khởi công dự án này đầu năm 1960, nhưng cuốn sách ấy, Mùa đông Labrado: Các bài viết về tộc người của William Duncan Strong, 1927 – 1928, mãi  cho đến năm 1994, bảy năm sau khi bà mất, mới được xuất bản.

[3]Trong phần này, Leacock cho thấy bà quan tâm tới bối cảnh lịch sử của người bản địa châu Mỹ và công kích quan niệm về quà tặng tộc người học. Qua nửa đầu thế kỷ 20, hầu như khoa mô tả tộc người không hề chú ý đến lịch sử. Các xã hội được trình bày trong trạng thái hiện hành của nó hay được trình bày theo những gì mà các thành viên bô lão kể lại. Vì mục đích bài viết của mình, nhiều nhà nhân loại học khẳng định rằng các xã hội mà họ nghiên cứu có tính độc lập tương đối với các lực lượng thay đổi từ bên ngoài, và sự thay đổi diễn ra bên trong cực kỳ chậm. Do đó, các khái niệm lịch sử có liên quan rộng rãi với khoa mô tả tộc người. Hơn nữa, hai trường phái tư tưởng nổi bật trong những năm 1960 và 1970 là thuyết cấu trúc và khoa học tộc người (hay khoa mô tả tộc người mới). Các thành viên của các trường phái này tập trung vào cái mà họ tin là những phương thức cơ bản trong đó các thành viên của xã hội nhận thức được thế giới của mình. Họ cho rằng các tác động của lịch sử lên sự nhận thức đó không quan trọng lắm. Mặt khác, chủ nghĩa Mác lại hết sức quan tâm tới lịch sử: các nhà Mácxít coi quá trình phát triển xã hội là do sự phát triển của những điều kiện bên trong quy định. Do đó, phương pháp tiếp cận của Mácxít nữ quyền phải gắng sức đề cập tới việc vạch ra vai trò quan trọng của lịch sử để nghiên cứu vị trí của phụ nữ trong xã hội.

[4]Trong phần này, Leacock bắt đầu dựng lên trường hợp rằng các quan hệ giới được báo cáo trong hầu hết các khoa mô tả tộc người thế kỷ 19 là kết quả của việc tiếp xúc với những người châu Âu chứ không phải là của những yếu tố cấu trúc của xã hội ngoài châu Âu. Một số tên gọi quan trọng mà Leacock đề cập trong phần này là tộc người Wyandot, Powell, và Lafitau. Tộc người Wyandot được biết đến nhiều hơn với tên gọi là Huron. Còn Powell là ám chỉ đến John Wesley Powell (1834-1902), người sáng lập Bureau of American Ethnology (Vụ Dân tộc học Mỹ, 1879). Để biết thêm về Powell bạn đọc có thể đọc thêm phần dẫn nhập cho chương “Thuyết đặc thù lịch sử”. Joseph-François Lafitau (1681-1746), tác giả của cuốn American Savages Compared with Those of Earliest Times (Những tộc người man dã Mỹ so sánh với những tộc người thuộc những thời kỳ sớm nhất, 1724), là một nhà truyền giáo dòng Tên đã sống và làm việc trong tộc người Iroquois  từ năm 1711 đến 1717. Ông viết về các hệ thống họ hàng của người Iroquois trước Morgan một trăm năm.

[5]Theo tư tưởng của Marx, giữa sản phẩm lao động và quyền lực có mối liên hệ mật thiết với nhau. Vì ngay từ đầu các quan hệ xã hội nảy đều sinh từ các quan hệ sản xuất, đóng góp của một cá nhân vào sản xuất càng nhiều thì quyền lực của anh ta càng lớn. Leacock nói rằng cách đọc về khoa mô tả tộc người của bà cho thấy phụ nữ và nam giới đều hoàn toàn tham gia vào sản xuất trước khi xã hội của họ chịu sự tác động sâu sắc của phương Tây. Nếu đúng như vậy, từ một điểm nhìn của Marx, hệ quả tất yếu sẽ là cả phụ nữ và nam giới cũng đều hoàn toàn tham gia vào việc ra các quyết định chính trị.

[6]Mặc dù Leacock không đưa ra bất kỳ sự đối chiếu nào về những gì bà trình bày như là một thực tế chung – coi các xã hội bình đẳng là các trạng thái phôi thai – có lẽ bà nghĩ đến công trình Sự tiến hóa của xã hội chính trị (The Evolution of Political Society, 1967) của Morton Fried. Cuốn sách của Fried xuất bản trước bài viết này nhiều năm và sau này bà thường xuyên trích dẫn cuốn sách ấy trong các công trình của mình.

[7]Nhiều nhà nữ quyền trong thập niên 1970 coi tình trạng lệ thuộc của nữ giới như là một hiện thực phổ biến của con người. Chẳng hạn, Ortner nói rằng tình trạng lệ thuộc của nữ giới  “có trong mọi loại hình cơ cấu kinh tế xã hội và có trong các xã hội thuộc mọi trình độ tính phức tạp” (xem bài viết 28). Khi một thực tiễn trở nên phổ biến thì nó cũng khó mà tránh khỏi hoài nghi cho rằng cái phổ biến ấy nằm sâu trong bản chất con người. Nhưng đối với người Mácxít thì điều đó không thể xảy ra. Bản chất con người không cố định và phổ biến mà được sáng tạo ra trong quá trình sản xuất. Do đó, các giải thích dựa vào bản chất con người đều không thể đứng vững . Leacock thường xuyên lặp lại luận điểm này trong các đoạn kế tiếp.

[8]Khi Leacock nói giữa thế kỷ này người ta thừa nhận luận điểm rằng Engels và Morgan là gần đúng, thì có lẽ bà nghĩ đến các công trình của Leslie White nghiên cứu về tiến hóa văn hóa và công trình biên tập tác phẩm Morgan của ông (xem bài viết 20). Luận cương về Feuerbach (Theses on Feuerbach) của Marx là một công trình ngắn viết năm 1845, được xuất bản với tính cách là phần phụ lục cho công trình Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của nền triết học cổ điển Đức (Ludwig Feuerbach and the End oa Classical German Philosophy (1949 [1888]) của Engels, gồm 11 luận điểm vắn tắt mà theo Marx nó độc lập với các công trình riêng của ông về Feuerbach. Nguyên bản của luận cương VI là: “Feuerbach hòa tan bản chất tôn giáo thành bản chất con người. Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu nào đó trong mỗi cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng thể các quan hệ xã hội. Cho nên, Feuerbach, người đã không phê phán cái bản chất hiện thực đó, buộc phải: 1) trừu xuất khỏi quá trình lịch sử và ấn định tình cảm tôn giáo như là cái gì đó tự thân và chủ trương một con người trừu tượng, biệt lập; 2) bản chất do đó chỉ có thể được hiểu là “loài”, là tính phổ quát nội tại, câm gắn kết một cách tự nhiên với nhiều cá nhân khác.”

Trong đoạn tiếp theo, Leacock giải thích ý nghĩa luận điểm của Marx cho luận chứng của mình.

[9]Ở đây và đoạn kế tiếp, Leacock trình bày phép biện chứng Mácxít. Bà nói rằng xã hội không phải đơn giản là sự phản ánh về cơ cấu sản xuất (đó là lập trường mà những người Mácxít gọi là “chủ nghĩa duy vật tầm thường”, mà đúng hơn nó nảy sinh từ các quan hệ sản xuất và phương cách người ta suy nghĩ về các quan hệ của họ.

[10]Khi bài được viết ra thì ở Mỹ thuyết Cấu trúc và Sinh học xã hội Pháp đã cực kỳ thịnh hành. Leacock nhắm vào hai thuyết ấy, đặc biệt là công trình Sinh học xã hội: Sự tổng hợp mới (Sociobiology: The New Synthesis) của nhà sinh học xã hội E. O. Wilson. Quan niệm của Wilson, cho rằng các gien ảnh hưởng phần lớn đến bản chất con người, là điều mà các nhà nhân loại học không thể nào chấp nhận. Đằng sau quan niệm về “các gien tương thích” là tư tưởng cho rằng hoạt động săn bắt đòi hỏi trình độ phối hợp và chấp hành cao. Laughlin (đoạn này có đề cập) gọi hoạt động săn bắt là “mô hình hoạt động chủ yếu của loài người” (trích trong Barash 1979:186). Do đó, khuynh hướng của con người phải thích ứng, nhìn chung, là có cơ sở – kết quả là áp lực tiến hóa tác động mạnh cho sự thích nghi đã diễn ra hàng ngàn năm qua.

Leacock phê phán tính quy giản và phản lịch sử của thuyết Cấu trúc Pháp. Đối với Lévi-Strauss, ý nghĩa ẩn sâu của các huyền thoại và các hiện tượng văn hóa khác bao hàm một số định đề phổ quát, việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Hình thức bên ngoài của các câu chuyện và các bối cảnh lịch sử sản sinh ra chúng đều không có giá trị. Leacock tuyệt nhiên không chấp nhận quan điểm này.

[11]Isometric : đồng kích thước.

Ở đây, Leacock nói rằng mặc dù giới tính (sex) và giới (gender) không tương đương nhau nhưng nhiều nhà nghiên cứu vẫn tin rằng những khác biệt về sinh lý giữa đàn ông và đàn bà là cơ sở cho sự bất bình đẳng giới. Một ví dụ về kiểu nghiên cứu này là phân tích cấu trúc của Ortner trong sách này (bài viết 28).

[12]Trong đoạn trên, Leacock lên án các nhà sinh học xã hội và các nhà cấu trúc. Ở đây, bà nhắm vào những người mácxít vô danh đã không hoàn toàn vận dụng sự phân tích mácxít cho vấn đề của họ bởi lẽ họ chấp nhận hệ tư tưởng Tây phương về tính ưu việt của nam giới. Các tác giả tân-Mácxít (Neo-Marxist) nổi tiếng vì chống đối các lập trường của bất kỳ học thuyết nào khác, Leacock không cần đến những người cùng trường phái với bà.

[13]Cặp quan hệ là mối quan hệ có hai bộ phận. Ở đây, Leacock cho rằng sự hình thành các cặp quan hệ về sự phụ thuộc trong các gia đình cá nhân là nhân tố thứ yếu để giải thích nguồn gốc của bóc lột.

[14]Trong đoạn này, Leacock cố gắng lược thuật lý thuyết của Marx về nguồn gốc của hệ thống cấp bậc. Bước đầu là sự vận động đi từ việc sản xuất vật đơn thuần là để tiêu dùng (vì “giá trị sử dụng” của chúng) đến việc sản xuất vật với tính cách là hàng hóa có thể bán được. Marx cho rằng sự vận động này cho phép con người trong xã hội tư bản nghĩ về lượng lao động tiến hành sản xuất một vật phẩm ngang bằng với giá trị của vật phẩm đó. Tuy nhiên, xã hội tư bản đã tạo nên hiện tượng sùng bái hàng hóa, làm cho giá hàng hóa cao hơn lao động đã sản xuất ra nó. Quan điểm của Marx thỉnh thoảng được nói đến như là học thuyết giá trị lao động và là một trong những phương diện gây nhiều tranh luận nhất trong triết học của ông.

Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước(1972 [1884]) là cuốn sách Engels viết dựa trên những chú thích mà Marx ghi khi đọc cuốn Xã hội cổ đại của Morgan. Phân tích của Engels dựa trên cơ sở quan điểm của Morgan rằng khởi thủy gia đình thuộc về chế độ mẫu hệ. Ông kết nối bước chuyển từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ đến sự hình thành chế độ tư hữu. Leacock không xa lạ với công trình này của Engels. Trên thực tế, bà đã viết phần dẫn luận cho nó trong lần xuất bản năm 1972.

[15]Trong phần này, Leacock dựa nhiều vào lý thuyết phân tầng  cao của Morton Freid trong Tiến hóa của xã hội chính trị (1967). Tiểu luận của Freid trong sách này (22) được công bố trước cuốn sách của ông 7 năm và là một bản tóm tắt các luận điểm cơ bản mà ông phát triển ở đó.

[16]Trong đoạn này, “Nguồn gốc của hệ thống cấp bậc”, Leacock chỉ ra rằng các quá trình xã hội khác về chất với các hoạt động cá nhân. Ở đây, các cá nhân chỉ đơn giản theo đuổi lợi ích riêng của họ, mà kết quả cuối cùng là sự biến chuyển xã hội thành đẳng cấp, tước mất sự độc lập của họ. Bà cho rằng cũng chính sự biến chuyển ấy đã dẫn đến sự hình thành đẳng cấp giới.

[17]Theo tư tưởng Mácxít, chính việc giải quyết mâu thuẫn tạo ra sự thay đổi của các hình thái xã hội. Tuy nhiên, mỗi một giải quyết đều chứa đựng một mầm mống mâu thuẫn mới, và do đó, tiến lên các hình thái xã hội mới. Trong đoạn này, trước hết Leacock chỉ ra mâu thuẫn giữa các hình thái xã hội bình đẳng với hình thái chuyên môn hóa. Do chỗ hai hình thái chuyên môn hóa không có khả năng hoàn toàn bình đẳng cho nên một khi xuất hiện hình thái chuyên môn hóa thì các quan hệ xã hội bình đẳng có khả năng bị phá vỡ. Trong các xã hội đẳng cấp, tình hình này đang được giải quyết thông qua chế độ đẳng cấp của các nhóm thân tộc. Nhưng nó lại tạo ra những mâu thuẫn mới vì hiện nay các quan hệ ngoài họ hàng có thể có được nhờ buôn bán với những người không thân thích.

[18]Leacock cho rằng trong các xã hội bình đẳng dựa trên cơ sở nền kinh tế hàng đổi hàng, các quan hệ giới diễn ra một cách bình đẳng. Việc làm cho hàng hóa trở nên phong phú và biến lao động thành một thứ hàng hóa là những yếu tố làm xuất hiện xã hội có giai cấp, và chỉ khi nào xã hội bình đẳng chuyển thành xã hội theo trật tự đẳng cấp thì khi đó người phụ nữ đã mất quyền của mình và những quyền ấy được chuyển sang tay nam giới. Điều này đặt ra cho bà một câu hỏi khó: Tại sao những người bị mất quyền lại là phụ nữ chứ không phải đàn ông? Bà phản đối những cách giải thích dựa trên cơ sở sinh học cũng như những cách giải thích dựa trên “bản chất của con người”, và thay vào đó, bà khẳng định phụ nữ mất đi vị thế của mình là bởi họ chỉ làm việc sản xuất ra sức lao động chứ không phải sản xuất ra bản thân hàng hóa. Phụ nữ sản xuất ra lao động, đàn ông sản xuất ra hàng hóa. Trong các xã hội giai cấp, hàng hóa có giá trị hơn lao động, chính vì thế mà đàn ông có giá trị  hơn phụ nữ. Lưu ý rằng tính xác thực của luận điểm này hoàn toàn xác lập trên nền tảng tư tưởng của học thuyết về giá trị lao động của Marx và tư tưởng về việc làm cho hàng hóa trở nên phong phú. Nếu không có những tư tưởng này thì cũng không cơ sở nào để giải thích tại sao về thực chất việc sản xuất ra lao động lại ít giá trị hơn hay nhiều giá trị hơn so với việc sản xuất ra các hàng hóa.

Điều thú vị là nhìn bề ngoài thì phân tích của Leacock được trình bày ở đây giống với quan điểm của Ortner trong “Từ nữ đến nam như từ tự nhiên đến văn hóa?”. Trong tiểu luận ấy, Ortner thừa nhận rằng phụ nữ bị đánh giá thấp hơn nam giới vì tự nhiên được coi là thấp hơn văn hóa. Hoạt động sinh con đẻ cái của phụ nữ gắn họ với tự nhiên trong khi hoạt động sản xuất ra tư liệu đã gắn đàn ông vào văn hóa. Sự khác nhau cơ bản giữa phân tích cấu trúc Ortner và phân tích Mácxít của Leacock là ở chỗ Ortner coi các vị trí quan hệ của tự nhiên và văn hóa là các đặc trưng cơ bản của ý thức con người; còn Leacock lại cho rằng vị trí của lao động đối với các sản phẩm của nó là một sự phát triển đặc thù của lịch sử trong các xã hội tư bản chủ nghĩa.

[19]Leacock cho rằng đàn ông có thể tái sản xuất ra vị trí xã hội cao hơn của họ bằng cách dựa vào công việc nội trợ không được trả công của phụ nữ. Về cơ bản, luận điểm của bà chính là luận điểm của Engels trong Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước. Trong công trình này, Engels cho rằng tài sản là vấn đề then chốt trong hôn nhân của những người tư sản, và ông ví hôn nhân như là nạn mại dâm. Trong những cuộc hôn nhân như thế, phụ nữ chấp nhận thân phận phục dịch việc nội trợ và phục dịch tình dục để đổi lấy cái giá đỡ kinh tế. Engels cho rằng sau khi cuộc cách mạng chủ nghĩa cộng sản thắng lợi thì hôn nhân sẽ diễn ra một cách bình đẳng vì mọi đối tác hôn nhân đều bình đẳng với nhau trong nền sản xuất xã hội.

[20]Trong đoạn này, Leacock trích dẫn hai nhà nhân loại học nữ quyền kiệt xuất: Peggy Sanday (1937-) và Karen Sacks (1941-). Khi tiểu luận này được viết thì Sanday cũng vừa công bố Quyền của nữ giới và sự thống trị của nam giới: bàn về nguồn gốc của sự bất bình đẳng giới (1981). Trong công trình ấy, bà cho rằng trong các xã hội “hướng nội” – cùng với nguồn dự trữ thức ăn dư thừa và một ít mối đe dọa gây hấn từ bên ngoài – con người ta sống hài hòa với giới tự nhiên và sống hòa thuận với nhau. Quan hệ giữa các giới diễn ra bình đẳng. Nhưng trong các xã hội “hướng ngoại”, mà sự khan hiếm thức ăn và chiến tranh là đặc trưng của nó, nam giới thống trị nữ giới. Bà cũng nói rằng con số các xã hội “hướng ngoại” tăng lên cùng với chủ nghĩa thực dân. Karen Sanday cũng nghiên cứu các vấn đề bất bình đẳng giới, và cũng trong thời gian ấy, bà cho công bố cuốn sách Những người chị em và những người vợ: quá khứ và tương lai của bình đẳng giới (1979).

[21]Luận điểm căn bản của Leacock là công việc nội trợ của phụ nữ là hết sức quan trọng đối với sự tái sản xuất ra sức lao động. Nếu không có công việc nội trợ thì các gia đình không thể sinh hoạt được và những người lao động cũng không thể có được. Tuy vậy, các ông chủ tư bản (chủ nhà máy hay chủ hầm mỏ) chỉ trả lương cho các công nhân (thường là nam giới) chứ không trả lương cho những người phụ nữ đã sản xuất ra những người công nhân ấy. Do đó, từ quan điểm của Lecock thì công việc nội trợ của phụ nữ là món quà tặng cho các nhà tư bản.

[22]Leacock đang phê phán dự án “Hồ sơ về lĩnh vực các quan hệ của con người” của Goerge Peter Murdock. Dự án của Murdock là sự kế tục các nghiên cứu đối chiếu văn hóa trên quy mô lớn của Herbert Spencer. Do đó, nó nằm trong dòng chảy hệ tư tưởng chống Mácxít. “Đại cương tư liệu văn hóa” mà Murdock soạn ra để mã hóa HRAF rõ ràng thuộc trường phái ngoài Mác-xít, ý chú trọng đến các vấn đề: xung đột, chủ nghĩa đế quốc, ý thức giai cấp hay những mối quan tâm chủ yếu khác trong nghiên cứu phân tích Mác-xít.

[23]Trong nửa phần sau của tiểu luận này, Leacock đưa ra quan điểm cho rằng từ thế kỷ 15 trở đi, sự bành trướng của châu Âu đã có những tác động quan trọng lên tất cả mọi người trên thế giới. Nhất là khi các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã áp đặt bản thân nó lên các nhóm dân tộc bản địa thì phụ nữ lại phải chịu thiệt thòi trong quan hệ xã hội và chính trị. Trong các xã hội bình đẳng trước đó, phụ nữ hoàn toàn bình đẳng với nam giới cũng như được hưởng những quyền lợi đáng kể thì giờ đây mọi sự đã đảo ngược, đàn ông bắt đầu thống trị nữ giới. Leacock cho rằng hầu hết các công trình tộc người học đã không xét đến những tác động của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Do đó, khoa mô tả tộc người vốn từng vạch ra tình trạng áp bức nữ giới ở các dân tộc bản địa nhìn chung đã rơi vào sai lầm. Các tác giả của những công trình chuyên khảo ấy, theo lối viết quà tặng tộc người học, không nhận ra rằng những thực tế mà họ coi là “truyền thống” chỉ có từ khi chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào làm biến đổi các xã hội ấy. Nếu chúng ta xét các xã hội ấy trong trạng thái trước khi có sự bành trướng của phương Tây thì sự bình đẳng của các quan hệ giới trong các xã hội bình đẳng và trong các xã hội mới xuất hiện giai cấp sẽ trở nên rõ ràng hơn. Khi đưa ra quan điểm này, Leacock đã chịu ảnh hưởng sâu sắc học thuyết Các hệ thống thế giới, một tư tưởng phổ biến của trường phái Tân Mác-xít trong những năm 1960-1970. Mặc dù các khái niệm phụ thuộc đã có từ lâu nhưng học thuyết Các hệ thống thế giới lại được các công trình của Andre Gunder-Frank (1929-) và Immanuel Wallerstein (1930-) cổ xúy. Trong bài viết nổi tiếng nhất của mình, “Sự phát triển của thực trạng kém phát triển” (1966) Gunder-Fank cho rằng các nước Mỹ Latinh không phải là nghèo bởi lẽ các nước ấy không thực hiện công nghiệp hóa. Đúng hơn, các quá trình bành trướng của chủ nghĩa tư bản ở những nước giàu, đặc biệt là các nước ở Bắc Mỹ và Bắc Âu, đã di chuyển của cải ra khỏi các nước Mỹ Latinh. Vào năm 1974, Wallerstein cho xuất bản cuốn Hệ thống thế giới hiện đại, trong sách ấy, ông vạch ra sự phát triển của chủ nghĩa tư bản toàn cầu từ nguồn gốc của nó đến đầu thế kỷ 17 và nhấn mạnh những tác động tai hại của nó đối với các nền văn hóa không thuộc tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Cũng như Gunder-Frank, luận đề cơ bản mà Wallerstein phát triển thêm là mối quan hệ giữa sự giàu có của những nước này đối với tình trạng nghèo khổ của những nước khác. Các nước giàu ngày nay đã làm giàu bằng cách chiếm đoạt tài sản của những nước nghèo hiện nay. Cho dù Leacock chỉ quan tâm đến các quan hệ giới chứ không phải là sự giàu có thì luận điểm căn bản cũng vẫn như vậy. Bà vẫn giữ quan điểm cho rằng chính sự bành trướng của thế lực tư bản chủ nghĩa đã làm lu mờ vị trí của phụ nữ qua từng xã hội khác nhau.

[24]Đoạn này có đối chiếu với một số tính chất hiển nhiên. Daisy Bates (1861-1951) là người Irish, đã từng sống với những người thổ dân trong ba mươi năm, kể từ khoảng năm 1913. Bates đã viết một số sách nói về kinh nghiệm của bà. Điều không thể nghi ngờ là nhiều sự việc khủng khiếp đã diễn ra ở những người thổ dân, mà Daisy Bates thể là nguồn tin cậy tốt nhất. Julia Blackburn, tác giả của cuốn sách Daisy Bates ở nơi hiu quạnh: Cuộc sống của một người phụ nữ giữa những người thổ dân (1994), viết rằng Bates đã hư cấu câu chuyện cuộc sống của mình và bà không thể tách biệt kinh nghiệm và trí tưởng tượng của mình.

Colin Turnbull là tác giả của các cuốn sách Người miền rừng (1961) và Người miền núi (1972). Cuốn sách đầu mô tả cuộc sống nhàn hạ của người Mbti vùng Rừng Ituri, cuốn thứ hai mô tả cuộc sống nhàn hạ của người Ik vùng Uganda. Tính lãng mạn (hay phi lãng mạn)  của cả hai bức tranh mô tả ấy từng bị phê phán nặng nề.

A. R. Radcliffe-Brown đã sống ở Australia từ năm 1926 đến năm 1931. Hình ảnh mà Bates và Leacock trình bày ở đây là một hình ảnh có tính khiên cưỡng, và rất có thể hình ảnh ấy cũng từng xảy ra. Rõ ràng là Radcliffe-Brown ít quan tâm đến lịch sử và tin tưởng rằng các hệ thống  xã hội mà ông nghiên cứu tương đối ít chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân.

[25]Ở đây, một lần nữa Leacock lại công kích các nhà Mác xít Pháp mà bà đã nói đến trong phần phân tích về châu Phi. Chúng tôi đã cắt phần tiểu luận này ra khỏi văn bản nhưng để chắc chắn, bạn đọc nên đọc tóm tắt của chúng tôi về phần bị cắt bỏ ấy.

Đinh Hồng Phúc dịch

Nguồn: triethoc.edu.vn

2 Responses to “Lý giải các nguồn gốc của sự bất bình đẳng giới: những vấn đề lịch sử và quan niệm”

  1. Thân gửi các bạn,
    Cảm ơn các bạn đã quan tâm đăng tải những bản dịch của tôi. Về tác phẩm này, bản dịch tôi đăng tải trên doxa.com.vn là bản cũ, một số thuật ngữ dịch chưa được hợp lý; và tôi đã sửa chữa lại ở bản mới. Các anh chị có thể dùng bản mới thay cho bản này thì tôi rất vô vàn cảm ơn. Bản mới các anh chị có thể truy cập tại trang web cá nhân của tôi: http://triethoc.edu.vn
    Chúc các anh chị nhiều sức khỏe.

    • VNSW says:

      Cảm ơn anh Đinh Hồng Phúc đã chia sẻ thông tin, bài viết của mình! Mong tiếp tục nhận được sự chia sẻ của anh