Tổng quan chính sách của đảng, nhà nước về người cao tuổi

By admin
In Người cao tuổi
Apr 18th, 2010
2 Comments
323 Views

I. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cao tuổi

Trong lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trách nhiệm của các vị phụ lão chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại. Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng. Đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức. Nước bị mất, phụ lão cứu, nước suy sụp do phụ lão phù trì. Nước nhà hưng, suy, tồn, vong phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề …Nước nhà lo, các cụ cùng phải lo. Nước nhà vui các cụ đều cùng được vui ”.

Người lại nói: “Chúng ta là bậc phụ lão, cần phải tinh thành đoàn kết trước để làm gương cho con cháu ta. Vậy tôi mong các vị phụ lão ở Hà thành ra xung phong tổ chức “Phụ lão cứu quốc Hội” để cho các phụ lão cả nước bắt chước và để hun sức gìn giữ nền độc lập nước nhà”.

Ngay sau cách mạng tháng Tám, Bác Hồ đã rất quan tâm đến sức khoẻ nhân dân. Trong “Thư­ gửi các vị phụ lão” ngày 21/9/1945, Bác đã chống quan niệm cổ x­ưa “lão lai tài tận, lão giả an chi” và trong bài “ Sức khoẻ và thể dục, ngày 27/3/1946, Bác viết: “…Việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công… Vì vậy nên tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mọi ngư­ời dân yêu nư­ớc. Việc đó không tốn kém, khó khăn gì. Gái trai già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm đ­ược… Dân cư­ờng thì nư­ớc thịnh…”.

Trong bài “Tuổi tác càng cao lòng yêu nước càng lớn” Bác Hồ đã viết: Truyền thống “Điện Diên Hồng” là truyền thống yêu nước vẻ vang chung của dân ta và riêng của các cụ phụ lão ta.

Mỗi khi có việc quan hệ lớn đến nước nhà nòi giống, thì các cụ không quản tuổi cao sức yếu, luôn hăng hái đứng ra gánh vác phần mình và đôn đốc con em làm tròn nhiệm vụ.

Trong thời kì kháng chiến, chúng ta có những đội du kích “bạch đầu quân”. Sự chiến đấu anh dũng và hy sinh oanh liệt của “những đội viên tóc bạc răng long” đã làm cho lũ giặc kinh hồn và khuyến khích chiến sĩ ta càng thêm dũng cảm. Các cụ đã góp phần không nhỏ vào cuộc thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta.

Ngày nay, trong công cuộc xây dung chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm nền tảng vững mạnh cho sự nghiệp đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, các cụ cũng tham gia rất hăng hái.

Càng già, càng dẻo lại càng dai,

Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai.

Đôn đốc con em làm nhiệm vụ

Vuốt râu mừng xã hội tương lai[1].

Như vậy, ngay những ngày đầu thành lập nước, cách mạng còn đang trong trứng nước, thù trong, giặc ngoài đe doạ cũng như trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vị trí, vai trò, tiềm năng của người cao tuổi và đồng thời quan tâm, tập hợp, xây dựng tổ chức của Hội người cao tuổi là “Hội Phụ lão cứu quốc” tiền thân của Hội người cao tuổi ngày nay.

II. Những chủ trương của Đảng

Sau khi Hội người cao tuổi Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban Bí thư TW đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “ Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội. Hội người cao tuổi Việt Nam mới được thành lập, cần được nhanh chóng ổn định về tổ chức và mở rộng hoạt động ở cơ sở. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng, các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy người cao tuổi phục vụ công cuộc đổi mới. Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban của Đảng, các ban cán sự đảng Chính phủ, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp phối hợp với Hội nghiên cứu, soát xét các chính sách luật pháp hiện hành, đề xuất những văn bản pháp quy của nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huy người cao tuổi. Nhà nước cần dành ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề chăm sóc người cao tuổi. Trước hết cần quan tâm chăm sóc những người cao tuổi có công, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật và bất hạnh, nhanh chóng xoá bỏ tình trạng người già lang thang trên đường phố, ngõ xóm. Đề nghị Chính phủ hỗ trợ Hội người cao tuổi Việt Nam về kinh phí và điều kiện hoạt động”.

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nêu: “Đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, những người cao tuổi thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội; nêu gương tốt, giáo dục lí tưởng và truyền thống cách mạng cho thanh niên, thiếu niên…”.

Thông báo số 12-TB/TW ngày 13 tháng 6 năm 2001 đã khẳng định Hội người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội của người cao tuổi, có các nhiệm vụ đã được quy định cụ thể tại Pháp lệnh người cao tuổi; Hội có Ban đại diện ở cấp tỉnh và cấp huyện; Cấp tỉnh có từ 2 đến 3, cấp huyện có từ 1 đến 2 cán bộ chuyên trách đồng thời khẳng định: “ Nhà nước tiếp tục trợ cấp kinh phí họat động cho Hội. Các cơ quan có chức năng của Nhà nước tạo thuận lợi, bảo đảm cấp kinh phí kịp thời cho Hội”.

Trong bài phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân ngày quốc tế NCT (01.10.2002) do TW Hội người cao tuổi Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “…Chưa bao giờ lực lượng người cao tuổi nước ta lại đông đảo như hiện nay. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tự hào về lớp người cao tuổi nước ta. Với uy tín cao, sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống cùng với vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng lao động và nghiệp vụ phong phú, đa dạng của mình, người cao tuổi thực sự là một bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh quý giá của cả dân tộc. Chúng ta tôn trọng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực ấy”…

Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã hội. Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa…”.

Như vậy, từ Chỉ thị 59, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông báo số 12 của Ban bí thư TW Đảng đều khẳng định: Người cao tuổi là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội, vì thế, Chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

III. Luật pháp và chính sách của nhà nước

3.1. Luật pháp liên quan đến người cao tuổi

Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ đư­ợc thể hiện trong Hiến pháp năm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm đư­ợc việc thì đư­ợc giúp đỡ”. Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ ngư­ời già, người đau yếu và tàn tật. Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khoẻ và cứu trợ xã hội…”. Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái. Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ… ”. Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”.

Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36  quy định:“Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dư­ỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật…Và khoản 2 Điều 47 Luật này quy định: “Cháu có bổn phận… chăm sóc, phụng dư­ỡng ông bà nội, ngoại”.

Luật bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chư­ơng riêng: Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi … trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quy định:“người cao tuổi … đư­ợc ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, đư­ợc tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”.

Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Ngư­ời sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ ngư­ời lao động cao tuổi, không được sử dụng ngư­ời lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnh hưởng sức khoẻ”.

Điều 151 của Bộ luật hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”. Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là người già”.

3.2. Chính sách của nhà nước Việt Nam về người cao tuổi

Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 117/CP “Về chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuổi Việt Nam”. Chỉ thị khẳng định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân. Các cấp chính quyền đã đề ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm đó.

Để phát huy truyền thống của dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách của đảng và hỗ trợ hoạt động của Hội người cao tuổi, Thủ tướng đã chỉ thị:

1. Về chăm sóc người cao tuổi

Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng, đơn vị thuộc quyền thường xuyên quan tâm làm tốt công tác chăm sóc người cao tuổi. Công tác này cần được thể hiện trong các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội ngắn hạn và dài hạn của địa phương. Trong chỉ tiêu xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư: chỉ đạo các cơ quan văn hoá, thông tin, giáo dục và đào tạo đẩy mạnh công tác tuyên tryền, giáo dục nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về ý thức, thái độ và nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ kính trọng người cao tuổi.

Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trong khi hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và các chương trình quốc gia, cần chú ý bồi dưỡng và phát huy nguồn lực người cao tuổi. Hàng năm cần dành một tỷ lệ thích đáng ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy vai trò người cao tuổi và hỗ trợ Hội người cao tuổi.

2. Đối với Hội người cao tuổi

Hội có tư cách pháp nhân, hoạt động theo điều lệ phù hợp với Hiến pháp và pháp luật dưới sự lãnh đạo của đảng và sự hỗ trợ của Chính phủ về kinh phí và điều kiện hoạt động.

3. Đối với các Bộ, ngành

* Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quản lý về mặt nhà nước đối với Hội người cao tuổi có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn Hội hoạt động theo đúng đường lối, chính sách, pháp luật của nhà nước…

* Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân các địa phương tạo điều kiện giúp đỡ về cơ sở vật chất và hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động cho Hội người cao tuổi ở Trung ương, xã, phường và thị trấn.

* Các Bộ, ngành khi soạn thảo các văn bản pháp luật có liên quan đến chính sách đối với người cao tuổi cần tham khảo ý kiến của Hội người cao tuổi Việt Nam trước khi trình Chính phủ và Quốc hội.

* Chỉ thị cũng đã đề cập đến Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Ngoại giao, Tổng cục thể dục thể thao, Mặt trận tổ quốc Việt Nam… tạo điều kiện và phối hợp…chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.

* Pháp lệnh Người cao tuổi của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được ban hành năm 2000. Pháp lệnh người cao tuổi ra đời là bư­ớc đi thích hợp để chăm sóc người cao tuổi.

Pháp lệnh người cao tuổi đã dành chư­ơng 2: Phụng dư­ỡng, chăm sóc người cao tuổi (14 Điều) tập trung đề cập trách nhiệm của gia đình, Nhà nư­ớc, các tổ chức, cá nhân trong việc phụng dư­ỡng chăm sóc người cao tuổi trong đó chính sách chăm sóc sức khoẻ đư­ợc quan tâm khá toàn diện. Điều này đự­ơc minh chứng ở khoản 2 Điều 10; (khoản 2 Điều 12); (Điều 13); (khoản 1, 2 Điều 14); (Điều 15); (Điều 16).

* Nghị định số 30/CP của Chính phủ ban hành năm 2002 “Quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh người cao tuổi”. Điều 9 nêu rõ: người cao tuổi đư­ợc chăm sóc sức khoẻ theo quy định của Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 11 tháng 8 năm 1989; Người cao tuổi đư­ợc hư­ởng dịch vụ ư­u tiên khi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế theo Nghị định số 23/ HĐBT của Hội đồng Bộ trư­ởng (nay là Chính phủ) ngày 24 tháng 01 năm 1991 về Điều lệ khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng; Người cao tuổi từ 100 tuổi trở lên đư­ợc cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế.

* Căn cứ Nghị định số 30, Bộ Lao động- Thư­ơng binh và Xã hội ban hành Thông tư số 16/TT năm 2002 “hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 30/CP của Chính phủ”.

* Nghị định số120/CP của Chính phủ về việc sửa đổi Điều 9 của Nghị định số 30/CP năm 2002.

* Nghị định của Chính phủ số 121/CP “Về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn” năm 2003 ghi rõ chế độ đối với Chủ tịch Hội người cao tuổi cấp xã.

* Năm 2004, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư­ số 02/ 2004/TT- BYT hư­ớng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi trong đó quy định: người cao tuổi đư­ợc …chăm sóc sức khoẻ, đư­ợc khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; đư­ợc chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đư­ợc ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đảm bảo chế độ chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại địa phư­ơng. Ngành y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuật trong chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi… Tổ chức mạng lư­ới tình nguyện viên chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại nhà. Trạm y tế xã, phư­ờng, thị trấn có trách nhiệm quản lý sức khoẻ và thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người cao tuổi tại địa phư­ơng. Trư­ờng hợp người cao tuổi bị tàn tật, cô đơn không nơi nư­ơng tựa bị ốm đau như­ng không đến khám, chữa bệnh tại nơi quy định thì trư­ởng trạm y tế cấp xã cử cán bộ y tế đến khám, chữa bệnh tại nơi ở của người cao tuổi hoặc báo cáo Uỷ ban nhân dân địa phư­ơng tổ chức đư­a ngư­ời bệnh đến cơ sở khám, chữa bệnh…thực hiện việc ưu tiên khám trư­ớc cho ngư­ời bệnh cao tuổi (Sau trư­ờng hợp cấp cứu), phát triển các phư­ơng pháp chữa bệnh không dùng thuốc nhất là ở tuyến y tế cơ sở đối với ngư­ời bệnh cao tuổi.

Ngư­ời cao tuổi từ 90 tuổi trở lên đư­ợc hư­ởng các chế độ bảo hiểm y tế theo quy định tại Thông tư­ số 24/2003 ngày 6/11/2003 của Bộ Lao động – Thư­ơng binh và Xã hội hư­ớng dẫn thi hành Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20/10/2003 của Chính phủ. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nư­ớc và nư­ớc ngoài, gia đình của người cao tuổi mua thẻ BHYT cho người cao tuổi.

Có thể nói, thông tư ­ 02/2004 của Bộ Y tế đã tiến một bư­ớc dài trong việc thể chế hoá chính sách y tế cho người cao tuổi Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng cho việc xây dựng chính sách y tế mới cho người cao tuổi khi Luật người cao tuổi đư­ợc Quốc hội thông qua.

* Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 141, năm 2004 “Về việc thành lập Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam”.

* Quyết định số 47, năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính “Về việc ban hành quy chế quản lí và sử dụng Quỹ chăm sóc người cao tuổi”.

* Nghị định 67/CP, năm 2007 của Chính phủ “Về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội”, trong đó có đối tượng là người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, được hưởng 120.000 đ/tháng.

Bằng thực tiễn hoạt động của người cao tuổi và Hội người cao tuổi, Hội người cao tuổi Việt Nam đã có những đóng góp cụ thể vào các nội dung trong các văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước nêu trên. Các tổ chức Hội vừa triển khai, vừa đúc rút kinh nghiệm, vừa tham mưu, đề xuất với cấp uỷ, Chính quyền, từng bước bổ sung những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách đối với người cao tuổi. Ban Chấp hành TW Hội người cao tuổi Việt Nam cùng với tổ chức Hội các cấp đã trực tiếp tham gia bằng nhiều hình thức. Góp ý kiến bằng văn bản vào các báo cáo chính trị tại Đại hội IX, Đại hội X, tham mưu giúp Nhà nước những vấn đề cụ thể về người cao tuổi như: Thành lập Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam, xây dựng chương trình hành động Quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2006 – 2010; Tổng kết 8 năm thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi, chế độ trợ cấp cho người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, chế độ khám chữa bệnh cho người cao tuổi, chế độ cho cán bộ Hội các cấp theo công văn 372 của Bộ Nội vụ đầu năm 2008…

Tuy nhiên, các chính sách của các văn bản quy phạm pháp luật về người cao tuổi hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về người cao tuổi và những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn công tác người cao tuổi những năm qua, đó là:

Thứ nhất, Hiến pháp năm 1992, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình… có đề cập đến người cao tuổi ở một số điều luật. Pháp lệnh người cao tuổi và nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ quy định về chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi. Các quy định của pháp luật hiện hành đó chưa bao quát đầy đủ, toàn diện về quyền và nghĩa vụ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước đối với công tác người cao tuổi trong điều kiện đất nước phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Một số quy định về công tác tổ chức Hội chưa được thống nhất trong cách hiểu và vận dụng trong thực tiễn rất khác nhau.

Thứ hai, mặc dù Pháp lệnh người cao tuổi và các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của người cao tuổi đã được ban hành và tổ chức thực thi trong thực tế nhưng ở mức hạn chế vì các văn bản đó đều là các văn bản dưới luật. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về người cao tuổi còn chưa đầy đủ, thiếu hệ thống đồng bộ; các điều luật nặng về tuyên bố nên gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế khi tổ chức thi hành trong thực tiễn. Hơn nữa, Pháp lệnh người cao tuổi ra đời trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, tỷ lệ người cao tuổi mới chiếm khoảng 8% dân số.

Vì thế, việc nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật người cao tuổi, trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh người cao tuổi và các văn bản hiện hành sẽ góp phần thể chế hoá đầy đủ, toàn diện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về người cao tuổi ở nước ta hiện nay, vừa đáp ứng được nhu cầu hội nhập vừa có tính lâu dài.

(Ban Thường vụ Hội Người Cao tuổi Việt Nam)


[1] Báo Nhân dân, số 2387, ngày 01.10.1960

2 Responses to “Tổng quan chính sách của đảng, nhà nước về người cao tuổi”

  1. Lại Anh Sang says:

    Hiện cháu đang có bà nội tuổi trên 95, và đang sống cùng với gia đình cháu. mới gần đây cháu đang có một thắc mắc rằng :
    ( Bà cháu đang được hưởng chế độ mất sức của ông nội, nhưng theo cháu được biết nhà nước ta có chính sách và có dành 1 mức lương hàng tháng cho người cao tuổi, tuy nhiên bà cháu lại không được hưởng cái lương của người cao tuổi, với cái tuổi của bà cháu hiện giờ thì cũng chẳng có máy người có được, nhưng sao khi hỏi về lương của người cao tuổi, thì cán bộ xã lại bảo là không được, vì bà cháu đang được hưởng lương mất sức của ông, cháu thấy rất vô lý, bởi người cán bộ xã nói là chỉ được lấy 1 trong 2 lương, 1 là lương mất sức của ông nội, 2 là lương của người cao tuổi. mà 2 cái lương này nó lại hoàn toàn khác nhau sao lại chỉ được chọn 1 trong 2 lương, khi mà ông nội đã có công cho xã hội giờ ông không còn thì xã hội phải chăm sóc ông, còn lương của người cao tuổi thì là do bà có sức khỏe và đạt được mức tuổi đó, đáng lẽ là phải được hưởng nó, nhưng lại phải lựa chọn 1 trong 2 là sao? cháu thật không hiểu nổi. hôm nay cháu xin được hỏi ở đây mong các bác, các cô, các chú biết về những chính sách trên, cho cháu 1 đôi lời giải thích để cháu được biết và khỏi băn khoăn về vấn đề của bà nội cháu. cuối cùng cháu xin cám ơn tất cả các cô, gì, chú, bác đã quan tâm đến vấn đề của cháu

    email của cháu; tuansang24@gmail.com

    • Hoàng Thị Huyền Trang says:

      mình là một sinh viên học chuyên ngành công tác xã hội. tình cờ mình vào trang này và đọc được những dòng suy nghĩ của bạn. theo như mình biết thì bà của bạn vẫn được nhân lương của NCT, và nó không có sự lựa chọn răng chọn một trong hai lương. nếu chính quyền địa phương không giả quyết cho bạn thì gia đình bạn có thể kiến nghị lên cấp trên, mặc dù số tiền lương mà Nhà Nước trợ cấp cho NCT ko được nhiều nhưng đó cũng là tấm lòng mà Đảng Và Nhầ nước đã có sự quan tâm đến hoj. Hơn nữa nếu gia đình bạn không phản ánh thì sẽ có còn nhiều gia đình như vậy.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>